- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Bùi Văn Đ và bị đơn chị Trương Thị T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Đ được ly hôn chị Trương Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/ST-HNGĐ Ngày: 30.- 10.- 2018 V/v: Yêu cầu ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Xa Văn Đặng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Thủy.
2. Bà Nguyễn Thị Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2018 về yêu cầu xin ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Anh Bùi Văn Đ. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Trương Thị T. Vắng mặt.
Đều trú tại: xóm ĐB, xã TP, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn của anh Bùi Văn Đ, có nội dung như sau:
Anh Bùi Văn Đ và chị Trương Thị T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc về hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T P, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ngày 05/02/2013.
Đến tháng 11/2013, chị Trương Thị T đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là xóm ĐB, xã TP, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình khi đi không để lại địa chỉ nơi đến, nay anh Đ không biết chị T ở đâu, làm gì, không có tin tức nào về chị T.
Anh Bùi Văn Đ đã yêu cầu Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị T theo quy định của pháp luật.
Anh Bùi Văn Đ cũng đã yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố một người mất tích đối với chị Trương Thị T theo quy định của pháp luật, tới nay không có tin tức nào của chị T kể từ tháng 11 năm 2013. Tại phiên Tòa anh Bùi Văn Đ vẫn giữ nguyên đề nghị được ly hôn chị Trương Thị T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên Tòa thực hiện đúng với các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thị T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Bùi Văn Đ được ly hôn chị Trương Thị T.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Anh Bùi Văn Đ phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn khởi kiện của anh Bùi Văn Đ nộp tại Tòa án là đúng thủ tục theo quy định của pháp luật, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình ra quyết định tuyên bố chị Trương Thị T mất tích số 02/2018/QĐDS-ST ngày 15/8/2018, Tòa án đã niêm yết các tài liệu gồm: Thông báo thụ lý vụ án; hai giấy triệu tập đương sự đối với chị Trương Thị T; thông báo phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình là nơi cư trú cuối cùng của T, nhưng tới nay chị T vẫn không có mặt tại tại phiên tòa. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt chị Trương Thị T.
Anh Bùi Văn Đ và chị Trương Thị T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc về hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 05/02/2013, hôn nhân giữa anh Bùi Văn Đ và chị Trương Thị T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị T không có mâu thuẫn gì xảy ra. Đến tháng 11 năm 2013, chị T đã bỏ nhà đi, không biết đi đâu, anh Đ không biết lý do tại sao chị T lại bỏ nhà đi biệt tích cho tới nay. Anh Đ đã làm đơn yêu cầu Tòa án ra tuyên bố một người mất tích, đối với chị T. Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định số 02/2018/QĐDS-ST ngày 15/8/2018, về việc tuyên bố chị T mất tích, tới nay chị T vẫn biệt tích. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Bùi Văn Đ và chị Trương Thị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Bùi Văn Đ về yêu cầu xin ly hôn chị Trương Thị T là có căn cứ được quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Văn Đ chị Trương Thị T có quyền kháng cáo theo luật định.
Về án phí: Anh Bùi Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Đ được ly hôn chị Trương Thị T.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Anh Bùi Văn Đ phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình. Số tiền án phí được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí do anh Bùi Văn Đ đã nộp theo biên lai số 0004971 ngày 17/9/2018, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
5. Quyền kháng cáo: Anh Bùi Văn Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trương Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Đà Bắc; - Đương sự; - UBND xã TP; - Chi cục THADS Đà Bắc; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Xa Văn Đặng |