- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Bà Nguyễn Thị M Tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức với Giám đốc Bệnh viện Đ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn Giám đốc Bệnh viện Đ.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/LĐ-PT Ngày: 22-10-2018 V/v tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Nguyệt
Ông Bùi Hữu Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Anh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Nguyễn Văn Tư - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2018/TLPT-LĐ ngày 20 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 01/2018/LĐ-ST ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 82/2018/QĐ-PT ngày 05 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M; sinh năm 1966; nơi cư trú tại Số 73A/7 Đường X, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Giám đốc Bệnh viện Đ; địa chỉ trụ sở chính tại Số L đường M, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn T; chức vụ Phó giám đốc Bệnh viện Đ. (theo văn bản ủy quyền số 737/BVĐK-GUQ ngày 17/10/2018 của Giám đốc bệnh viện)
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M - Nguyên đơn.
(các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm,
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Từ ngày 31/12/1987 bà chính thức là viên chức làm việc tại Bệnh viện V, tỉnh Bắc Giang, đến ngày 18/3/2013 bà chuyển công tác vào làm việc tại Khoa sản – Bệnh viện Đ. Trong thời gian làm việc bà luôn chấp hành mọi chủ trương quy định của Nhà nước.
Ngày 24/8/2017, Giám đốc Bệnh viện Đ đã ra Quyết định số 468/QĐ-BVĐK về việc “Chấm dứt hợp đồng làm việc” đối với bà. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017 của Giám đốc Bệnh viện Đ. Buộc Giám đốc Bệnh viện Đ nhận bà trở lại làm việc theo đúng chuyên ngành được đào tạo và bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra cho bà theo đúng quy định.
Theo ông Trần Văn T đại diện của bị đơn trình bày: Bệnh viện Đ thừa nhận bà Nguyễn Thị M là viên chức làm việc tại Bệnh viện Đ theo lời bà M trình bày. Tuy nhiên trong quá trình làm việc, bà M có 02 năm liên tiếp là năm 2015 và năm 2016 bị Khoa sản và Bệnh viện phân loại đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ.
Căn cứ vào Luật viên chức năm 2010, Giám đốc Bệnh viện Đ đã ra Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017về việc “Chấm dứt hợp đồng làm việc” đối với bà Nguyễn Thị M vì lý do nêu trên. Ngày 11/10/2017 bà M đã nhận số tiền trợ cấp thôi việc là 55.828.500đ, theo Phiếu ủy nhiệm chi số 2017/10/986 của Kho bạc Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Về phía Bệnh viện đã giải quyết để bà M nghỉ hưu kể từ ngày 01/11/2017 tại Quyết định số 2209/QĐ-BHXH ngày 08/11/2017 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Lâm Đồng. Việc chấm dứt hợp đồng làm việc với bà M của Giám đốc Bệnh viện là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M thì Bệnh viện không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 01/2018/LĐ-ST ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc” với bị đơn Giám đốc Bệnh viện Đ. Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc với bà Nguyễn Thị M là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ án phí lao động sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án theo quy định.
Ngày 21/6/2018 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017 về việc “Chấm dứt hợp đồng làm việc” đối với bà Nguyễn Thị M vì quyết định này trái pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo hủy Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017về việc “Chấm dứt hợp đồng làm việc” và buộc Giám đốc Bệnh viện phải nhận bà trở lại làm việc theo đúng chuyên môn của bà. Ngoài ra, bà M không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Bị đơn đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc Thẩm phán và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm đồng thời đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M. Tuy nhiên bản án sơ thẩm áp dụng không đúng về phần án phí lao động sơ thẩm đối với nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX sửa bản án lao động sơ thẩm về phần án phí, các phần khác của bản án sơ thẩm đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ thẩm và cho rằng bà là viên chức trong biên chế nên không thể chấm dứt hợp đồng làm việc theo Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn đã ký số 56/HĐLV ngày 13/02/2017 giữa bà với Bệnh viện Đ, bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm hủy Quyết định số 468/QĐ-ĐK về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 56/HĐLV ngày 13/02/2017 đối với bà, buộc Bệnh viện Đ bồi thường và nhận bà trở lại làm việc theo đúng chuyên môn, ngoài ra bà không xuất trình thêm chứng cứ nào khác.
[1] Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không đồng ý việc Bệnh viện Đ ký Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 56/HĐLV ngày 13/02/2017, HĐXX thấy rằng: Bệnh viện Đ là đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công về lĩnh vực Y tế, khám chữa bệnh tại tỉnh Lâm Đồng theo quy định của pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Từ tháng 01/1988 bà Nguyễn Thị M tham gia công tác tại Phòng Y tế huyện V, tỉnh Bắc Giang với chức danh chuyên môn là Y sỹ theo Quyết định về việc điều động cán bộ số 30/QĐ-UB ngày 20/01/1988 của UBND huyện V, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Để được đoàn tụ gia đình, nên ngày 30/11/2012 bà M có đơn xin chuyển công tác từ Bệnh viện V, tỉnh Bắc Giang về Bệnh viện Đ, được Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 125/QĐ-SYT ngày 13/3/2013 “Về việc tiếp nhận và phân công công tác cán bộ, viên chức” và Giám đốc Bệnh viện Đ ban hành Quyết định số 96/QĐ-BVĐK ngày 18/3/2013 “Về việc tiếp nhận và phân công công tác đối với bà Nguyễn Thị M”. Theo đó, bà M được phân công nhận công tác tại Khoa Phụ sản - Bệnh viện Đ với chức danh chuyên môn là Bác sĩ điều trị chuyên khoa 1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật Viên chức năm 2010 quy định “ Viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2003 có các quyền, nghĩa vụ và được quản lý như viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định của Luật này. Đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục để bảo đảm các quyền lợi, chế độ, chính sách về ổn định việc làm, chế độ tiền lương và các quyền lợi khác mà viên chức đang hưởng”. Như vậy theo quy định chuyển tiếp của Luật Viên chức thì trường hợp bà Nguyễn Thị M là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm và có thời gian làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập trước ngày 01/7/2003 thì được quản lý như viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, việc Giám đốc Bệnh viện Đ thực hiện ký Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 56/HĐLV ngày 13/02/2017 đối với bà Nguyễn Thị M là không trái với quy định của pháp luật về chuyển tiếp, mục đích của việc ký kết hợp đồng làm việc là nhằm hoàn tất các thủ tục để bảo đảm các quyền lợi, chế độ, chính sách, việc làm và tiền lương cho viên chức trong quá trình làm việc theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn là không có căn cứ để HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận.
[2] Về yêu cầu kháng cáo hủy Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017về việc “Chấm dứt hợp đồng làm việc” của Giám đốc Bệnh viện Đ và nhận trở lại làm việc của nguyên đơn đối với bị đơn HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm bà M cho rằng bị o ép, Ban Giám đốc cố tình quy chụp cho những sai phạm của bà để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng bà không xuất trình được các chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày này. Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày căn cứ vào quy định của pháp luật đối với viên chức và trong phạm vi quyền hạn của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập nên Giám đốc Bệnh viện Đ ra Thông báo số 322/TB-BVĐKLĐ ngày 10/7/2017 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với bà Nguyễn Thị M, sau đó ngày 24/8/2017 Giám đốc Bệnh viện Đ ban hành Quyết định số 468/QĐ-ĐK về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 56/HĐLV ngày 13/02/2017 đối với bà Nguyễn Thị M và vẫn giữ nguyên quyết định đã ban hành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phân tích quá trình xem xét ban hành quyết định của Giám đốc Bệnh viện Đ trên cơ sở viện dẫn các quy định của pháp luật về hợp đồng làm việc đối với viên chức trong đơn vị sư nghiệp công lập và đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các biên bản họp Khoa sản từ năm 2015 và năm 2016 thì việc bình xét đánh giá kết quả công tác của bà M và của các viên chức khác công tác tại Khoa sản cùng thời điểm bình xét được phản ánh một cách khách quan và nghiêm túc. Quá trình công tác bà M có 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ, kết quả công tác được thể hiện cụ thể trong các biên bản họp đánh giá công chức, viên chức cuối năm 2015 và năm 2016 được đơn vị công bố công khai và bản thân bà M biết và không có ý kiến đối với kết quả phân loại đánh giá cuối năm nói trên. Trước khi ban hành Quyết định số 468/QĐ-ĐK ngày 24/8/2017 về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc Giám đốc Bệnh viện Đ ra Thông báo số 322/TB-BVĐKLĐ ngày 10/7/2017 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với bà Nguyễn Thị M theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức về thời hạn báo trước.
Đối chiếu với quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 quy định “Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau: Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ.”. Do vậy Quyết định số 468/QĐ-ĐK ngày 24/8/2017 của Giám đốc Bệnh viện Đ đối với bà Nguyễn Thị M về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
[3] Đối với tiền án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, thì trường hợp của bà Nguyễn Thị M là người lao động khởi kiện quyết định chấm dứt hợp đồng lao động nên được miễn nộp tiền án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm theo quy định của pháp luật về án phí lệ phí Tòa án. Bản án Lao động sơ thẩm buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ tiền án phí lao động sơ thẩm là có sai sót. Do vậy cần sửa bản án lao động sơ thẩm đối với phần án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn Giám đốc Bệnh viện Đ.
- Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 01/2018/LĐ-ST ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đối với phần án phí lao động sơ thẩm.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M với bị đơn Giám đốc Bệnh viện Đ về việc “Tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức”.
2. Quyết định số 468/QĐ-BVĐK ngày 24/8/2017 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc với bà Nguyễn Thị M là đúng quy định pháp luật.
3.Về án phí:
Bà Nguyễn Thị M không phải chịu tiền án phí lao động sơ thẩm và tiền án phí lao động phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án lao động phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC; - VKSND tỉnh LĐ; - TAND thành phố Đà Lạt (02); - Phòng KTNV&THA - Các đương sự; - Lưu AV - HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Hồng |