vanban.org

Bản án 04/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.

Luật kinh doanh thương mại. Luật về phí và lệ phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/KDTM-ST
Ngày: 16/10/2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ C

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh.

Các hội thẩm nhân:

1. Ông Huỳnh Văn Nhân;

2. Ông Đỗ Trọng Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận B, thành phố C.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố C xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 28/2018/TLST-KDTM ngày 27/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2018/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

NGUYÊN ĐƠN: Công ty cổ phần G. (Có mặt)

Trụ sở:phường T, quận T, thành phố C.

Sau đây gọi là Công ty G.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: bà Đặng Thị Thùy D, sinh năm 1977.Địa chỉ: phường T, quận T, thành phố C.

Giấy ủy quyền số 24/2018.UQ ngày 18/4/2018.

BỊ ĐƠN: Công ty trách nhiệm hữu hạn C. (Vắng mặt)

Trụ sở: khu công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố C.

Sau đây gọi là Công ty C.

Đại diện theo pháp luật: ông Lê Đức C – Giám đốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần G là bà Đặng Thị Thùy D trình bày:

Công ty G có ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 33/2017-HĐMB.GEN ngày 21/4/2017 với Cty C để mua bán hàng hóa là khô dầu đậu nành. Thời gian mua bán giữa hai bên diễn ra từ tháng 01/2017 cho đến tháng 12/2017. Quá trình mua bán phía Công ty C có nhiều vi phạm trong việc thanh toán tiền mua hàng nên Công ty G đã không tiếp tục giao hàng, tuy nhiên cho đến nay Công ty C vẫn còn nợ lại số tiền hàng hóa chưa thanh toán là 74.179.200 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng) dù Công ty G đã nhiều lần nhắc nhở, liên hệ. Nay Công ty G có đơn khởi kiện buộc Công ty C có trách nhiệm thanh toán số tiền hàng hóa còn nợ là 74.179.200 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng), ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt. Theo Công văn số 1541/ĐKKD ngày 01/4/2018 của Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Cần thơ xác nhận bị đơn vẫn con trụ sở chính tại hu công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố C. Tại thời điểm hiện tại, Công ty C chưa đăng ký thay đổi thêm hoặc lập thủ tục giải thể tại Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư thành phố C.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật nên Tòa án tiến hành thông báo xét xử theo thủ tục vắng mặt bị đơn theo luật định

Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đòi số tiền 74.179.200 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng), không yêu cầu tính lãi suất chậm trả và không yêu cầu tính lãi suất chậm thi hành án.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C tiếp tục vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét quan hệ pháp luật đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được pháp luật điều chỉnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn rất nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và thông báo xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn thanh toán số nợ còn thiếu là 74.179.200 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng), không yêu cầu tính lãi từ ngày thiếu đến nay và không yêu cầu tính lãi suất chậm thi hành án.

Phía bị đơn không có mặt, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ nào để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ vào hợp đồng mua bán hàng hóa và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền hàng hóa còn nợ, không yêu cầu tính lãi suất từ ngày thiếu đến ngày xét xử sơ thẩm và không yêu cầu tính lãi suất chậm thi hành án là ý chí tự nguyện của đương sự không trái với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Về án phí sơ thẩm: bị đơn phải chịu án phí theo quy định, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30,35,147, 227,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.

- Luật kinh doanh thương mại.

- Luật về phí và lệ phí.

- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn C phải trả tiền hàng hóa chưa thanh toán cho Công ty cổ phần G số tiền là 74.179.200 đồng (bảy mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng) là dứt nợ.

Thực hiện việc trả tiền khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Nguyên đơn Công ty cổ phần G được nhận lại 1.854.480 đồng (một triệu tám trăm năm mươi bốn ngàn bốn trăm tám mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 009109 ngày 07/5/2018 tại Cơ quan thi hành án dân sự quận B thành phố C.

- Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C phải nộp 3.709.000đồng (ba triệu bảy trăm lẻ chín ngàn đồng) án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận B, thành phố C.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ