vanban.org

Bản án 04/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An Tuyên án 09/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Minh Ch phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh Ch 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Minh Ch "vi phạm quy định về điều khiển PTGT đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Minh Ch phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/HS-ST
Ngày 09/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hải;

2. Ông Bùi Đức Hảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam- Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/HSST ngày 22/3/2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Minh Ch, sinh năm 1994. Tên gọi khác là: Không. Nơi cư trú: ấp T Tr, xã TBT huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn H, sinh năm 1963 và bà Mai Thị T1, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/02/2018

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1959 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Trần Thị M, sinh năm 1963;

Bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1990;

Ông Nguyễn Duy Kh, sinh năm 1986;

Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984;

Cùng địa chỉ: ấp Tân Hai, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Bà M, ông Kh và bà Th ủy quyền cho ông S tham gia tố tụng (giấy ủy quyền được lập bà chứng tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước ngày 18/01/2018)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị T1, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Ấp TTr, xã TBT, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:

Ông Huỳnh Tấn T2, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Khu phố 1, Thị trấn Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Bà Lê Thị Ch, sinh năm 1975 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 1, xã Vĩnh Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 16/12/2017, sau khi uống rượu cùng với bạn tại ấp TTr, xã TBT, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, Huỳnh Minh Ch điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 62D1 – 105.98 lưu thông theo hướng từ xã TBT đi xã Vĩnh Bình trên đường tỉnh 831C. Khi đến km0 + 700 thuộc ấp 1, xã Vĩnh Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An do chạy với tốc độ cao và sợ cảnh sát giao thông thổi phạt, vì trước đó Ch vừa chạy ngang qua chốt chặn của Cảnh sát giao thông đang làm việc nên Ch vừa điều khiển xe vừa quay đầu về phía sau để quan sát có bị công an giao thông đuổi theo hay không. Khi đã không thấy ai đuổi theo thì Ch quay đầu về phía trước nhưng chưa kịp quay thì xe của Ch đã va chạm vào ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1959, hộ khẩu thường trú tại ấp Tân Hai, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đang băng qua đường (vừa qua khỏi vạch trắng phân chia đường). Hậu quả ông T đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 332/TT ngày 25/12/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết sây sát da vùng đầu, mặt, cổ, ngực, bụng, lưng, mông. Tứ chi không phát hiện thương tích phần mềm và phần xương. Tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh chẩm kích thước 15cm x 12cm. Nứt vở xương hộp sọ vùng chẩm, kích thước: 07cm x 0,2cm. Nguyên nhân chết: Tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông lúc 18 giờ 50 phút ngày 16/12/2017 cho thấy đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa, tầm nhìn không hạn chế, bên đường có đèn chiếu sáng ban đêm. Mật độ giao thông lúc xảy ra tay nạn ít người qua lại. Mặt đường rộng 7,0m, có vạch sơn đứt quản phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mép đường chuẩn theo hướng từ xã Vĩnh Bình đi xã TBT. Xe mô tô ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng chếch vào lề đường bên trái, đuôi xe hướng chếch vào mép đường chuẩn. Đo từ trục bánh trước xe vào lề chuẩn là 5,4m, đo từ trục bánh sau xe vào lề chuẩn là 4,6m. đo từ đầu vết cày vào điểm mốc là 17,0m. Vết cày đứt quảng in trên mặt đường, vết cày dài 13,8m, nơi rộng nhất của vết cày là 0,5m, đo từ đầu vết cày vào mép đường chuẩn là 5,3m, đuôi vết cày kết thúc tại gác chân trước bên trái xe mô tô 62D1-105.98 cách mép đường chuẩn là 5,1m. Vùng vết máu nằm trên mặt đường có hình dạng không xác định, chiều dài vùng vết máu là 0,5m, chiều rộng là 0,4m. Đo từ tâm vết máu vào mép đường chuẩn là 4,0m, đo từ tâm vùng vết máu đến gác chân trước bên trái xe là 1,0m.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số HS 1630/QĐ.2017 ngày 20/12/2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Th phố Hồ Chí Minh kết luận nồng độ Ethanol trong máu của Huỳnh Minh Ch là 145,33mg/100ml.

Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn nói trên là do Huỳnh Minh Ch khi điều khiển xe mô tô biển số 62D1-105.98 không quan sát phía trước đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm ông Nguyễn Thanh T tử vong.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 21/3/2018 đã truy tố Huỳnh Minh Ch như trên, tuy nhiên hành vi vi phạm của Ch xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2018, so sánh Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 thì điều luật mới không có lợi hơn cho người phạm tội nên căn cứ vào Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung và điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; các điều 33, 45, 47 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh Ch phạm tội “vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo Ch từ 02 năm đến 03 năm tù; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà T1và đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là ông S về việc bồi thường số tiền 130.000.000 đồng vào 03 đợt (đợt 01 ngày 22/01/2018 45.000.000 đồng; đợt 02 ngày 22/01/2019 là 35.000.000 đồng; Đợt 03 ngày 22/01/2020 là 50.000.000 đồng). Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả 01 xe mô tô biển số 62D1- 105.98 cho bà Mai Thị T1.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của gia đình bị hại: Gia đình bị cáo đã thể hiện thiện chí đến thỏa thuận bồi thường thiệt hại nên phía gia đình đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa hôm nay vẫn giữ ý kiến nêu trên và đề nghị ghi nhận trong bản án, không yêu cầu tính lãi chậm trả; Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và thống nhất với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát

Ý kiến của bà T1: Do Ch tự ý lấy xe đi mà không báo với bà T1và đây là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà T1 nên bà yêu cầu được nhận lại chiếc xe, ngoài ra không có yêu cầu gì khác nên thống nhất với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng nên có căn cứ xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

Bị cáo Huỳnh Minh Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường và các kết luận giám định. Cụ thể: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 16/12/2017, tại km0 + 700 thuộc ấp 1, xã Vĩnh Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, bị cáo Huỳnh Minh Ch đã không tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ, cụ thể bị cáo điều khiển xe mô tô có dung tích 110 nhưng lại không có giấy phép lái xe, đồng thời bị cáo còn sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, có nồng độ Ethanol trong máu là 145,33mg/100ml, cao hơn quy định; Khi điều khiển xe không quan sát phía trước nên xe của bị cáo đã va chạm vào ông Nguyễn Thanh T đang băng qua đường, hậu quả ông T đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Vì vậy, có căn cứ khẳng định, khẳng định Cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 21/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo Huỳnh Minh Ch ra trước phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo Ch là người có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được việc khi tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo vẫn tham gia giao thông khi không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật dẫn đến hậu quả là ông T tử vong. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ra cái chết cho ông T và những mất mát, đau thương cho những người thân của ông T phải gánh chịu.

Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thích đáng, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; Đồng thời thể hiện sự răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng phân tích đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Ch đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà ngoại được tặng danh hiệu mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi khi qua đường nhưng thiếu quan sát nên khi mới bước qua vạch sơn trắng, chưa vào sát lề đường thì đã xảy ra tai nạn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt;

Về tình tiết tăng nặng: Không có;

Như vậy, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nên việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 để áp dụng hình phạt nhẹ hơn là hoàn toàn có căn cứ, thể tính nhân đạo và sự khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 62D1-105.98, số máy 5C6H261528, số khung C6H0GY261513 do bà T1 đứng tên trong giấy tờ xe là tài sản hợp pháp của bà T1 nhưng bị cáo Ch đã tự ý sử dụng và gây tai nạn nên việc giao trả chiếc xe nêu trên cho bà T1 là phù hợp với quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông S và bà T1 là phù hợp với quy định tại các Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do các bên đã tự thỏa thuận xong và chỉ yêu cầu Tòa án ghi nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Minh Ch phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;

Áp dụng Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2 Điều 202; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33, Điều 45, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Điều 293; 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh Ch 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Giao trả cho bà Mai Thị T1 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 62D1-105.98, số máy 5C6H261528, số khung C6H0GY261513.

Vật chứng nêu trên hiện nay cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 590 ghi nhận sự thỏa thuận giữ người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Thanh S và bà Mai Thị T1 như sau: Bà T1 có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị M, bà Nguyễn Thị Kim Th, ông Nguyễn Duy Kh và ông Nguyễn Thanh S số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng vào các đợt:

Đợt 01: Ngày 22/01/2018, trả 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng (đã thi hành xong);

Đợt 02: Ngày 22/01/2019, trả 35.000.0000 (ba mươi lăm triệu) đồng;

Đợt 03: Ngày 22/01/2020, trả 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Huỳnh Minh Ch phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ