vanban.org

Bản án 04/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Quốc P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quốc P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật năm; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÌNH LẬP
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/HS-ST
Ngày: 28-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Đức Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Đức Vượng;

Bà Vi Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/ QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Trương Quốc P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1996 tại thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn: Nơi cư trú (hộ khẩu thường trú): Số 24, Khu 1, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không theo tôn giáo nào; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Công Đ (đã chết) và con bà Hoàng Tuyết M; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có; nhân thân: Tốt; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12 tháng 02 năm 2018 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đặng Khánh D sinh năm 1995; trú tại: Số 100, Khu 1, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn - Có mặt tại phiên Tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Hoàng Tuyết M, sinh năm 1967; Số 24, Khu 1, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt,

- Người làm chứng:

+ Anh Phương Đức A, sinh năm 1995; trú tại: Số 35, Khu 5, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

+ Anh Đào Đại L, sinh năm 1995; trú tại: Khu 5, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt;

+ Anh Trương Quốc T, sinh năm 1986; trú tại: Số 24, Khu 1, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

+ Anh Mai Hải H, sinh năm 1996; trú tại: Số 88, Khu 4, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

+ Anh Lương Văn T1, sinh năm 1996; trú tại: Khu 3, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

+ Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1995; trú tại: Khu 3, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

+ Anh Đào Minh Q, sinh ngày 21/10/2001; trú tại: Khu 3, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21 tháng 10 năm 2017, Trương Quốc P cùng Hoàng Văn V, trú tại Khu 3, thị trấn Đ, huyện L, đến quán của anh Lương Văn T1 bán ở vỉa hè thuộc Khu 1, thị trấn Đ, huyện L để uống rượu, trong quán của Lương Văn T1 lúc này có Đặng Khánh D, sinh ngày 27 tháng 01 năm 1995, trú tại Khu 1, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Phương Đức A, Đào Minh Q, Mai Hải H và Đặng Thanh T2 ngồi ăn, uống ở một bàn khác bên cạnh.

Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ngồi uống rượu, Trương Quốc P nhìn thấy Đặng Khánh D đang ngồi cùng các bạn uống rượu ở bàn bên cạnh. Trương Quốc P nhớ lại khi còn học ở Trường trung học cơ sở thị trấn Đ, huyện L bị Đặng Khánh D đánh nên Trương Quốc P nảy sinh ý định sang đánh D để trả thù.

Trương Quốc P quan sát thấy có 01 con dao nhọn cán dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 20cm (chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 10cm), phần rộng nhất 2,5cm của anh T1 thường dùng gọt hoa quả bán hàng để trên bàn cách bàn P ngồi khoảng 01m. Trương Quốc P cầm con dao cho vào túi quần sau bên phải và đi đến đứng phía sau Đặng Khánh D, Trương Quốc P dùng hai tay túm vào cẳng tay phải kéo D đứng dậy và hỏi “ngày trước mày đánh tao phải không, ra nói chuyện”. Khi bị Trương Quốc P kéo đứng dậy, Đặng Khánh D quay mặt về phía P chưa kịp trả lời thì bị P dùng tay phải đấm 01 phát vào phần mặt bên trái. Thấy vậy, Phương Đức A đang ngồi cách vị trí P đánh D khoảng 03m liền vơ lấy chiếc ghế nhựa ném 01 phát trúng vào phần lưng bên phải của Trương Quốc P, P liền dùng tay phải lấy con dao đang để ở túi quần sau bên phải rút ra chém liên tiếp về phía D khoảng 04 nhát. Bị Trương Quốc P dùng dao chém, Đặng Khánh D dùng 02 tay giơ lên đỡ thì bị P chém trúng vào phần đốt xa ngón IV, ngón V bàn tay phải và ngang khớp ngón V bàn tay trái, sự việc sau đó được mọi người trong quán can ngăn. Đặng Khánh D được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện Đ để điều trị vết thương từ ngày 22 tháng 10 năm 2017 đến ngày 27 tháng 10 năm 2017, sau đó do mất vận động gấp ngón V bàn tay trái nên Đặng Khánh D đã đến Bệnh viện Q khám và điều trị từ ngày 07 tháng 11 năm 2017 đến ngày 13 tháng 11 năm 2017 (Các bút lục: 42; 44 - 50; 53 - 74; 94 - 145).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 20/2018/TgT, ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Khánh D là:

- 02 sẹo nhỏ đốt xa ngón IV, ngón V tay phải, tỷ lệ 02%.

- Sẹo ngang khớp ngón V bàn tay trái, tỷ lệ 06%.

- Tổn thương nhánh thần kinh trụ, cứng khớp liên đốt ngón V bàn tay trái, tỷ lệ: 11%.

Tổng tỷ lệ cộng lùi 18% (mười tám phần trăm) (Các bút lục 75 - 76).

Về vật chứng của vụ án: Con dao nhọn dài khoảng 20cm (cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, lưỡi dao dài 10cm) phần rộng nhất 2,5cm của anh Lương Văn T1 do Trương Quốc P dùng chém gây thương tích cho Đặng Khánh D. Sau khi gây thương tích cho Đặng Khánh D, quá trình mọi người vào can ngăn đã tước con dao đó khỏi tay P sau đó ném đi đâu không rõ. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm con dao nêu trên nhưng không có kết quả (Bút lục 150).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đặng Khánh D yêu cầu bị can Trương Quốc P bồi thường các khoản chi phí điều trị vết thương và tổn hại về tinh thần, sức khỏe với tổng số tiền là 17.053.000 đồng (mười bảy triệu không trăm năm mươi ba nghìn đồng) (Bút lục 151 - 152). Sau khi sự việc xảy ra, bà Hoàng Tuyết M là mẹ đẻ của bị can Trương Quốc P đã tự nguyện bồi thường cho gia đình Đặng Khánh D số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), đến ngày 09 tháng 4 năm 2018, bà Hoàng Tuyết M tiếp tục nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng để bồi thường cho bị hại Đặng Khánh D (Bút lục: 148). Tổng công gia đình Trương Quốc P đã bồi thường cho Đặng Khánh D được 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng.

Tại cơ quan điều tra bị can Trương Quốc P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Phương Đức A là người đã có hành vi ném chiếc ghế nhựa vào phần lưng bên phải của Trương Quốc P nhưng không gây thương tích nên không đặt vấn đề xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trương Quốc P ra trước Tòa án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, Điều 51, của Bộ luật Hình sự 2015; các điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Quốc P từ 30 tháng đến 36 tháng tù giam; đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự thỏa thuận về phần bồi thường giữa gia đình bị cáo và người bị hại số tiền 17.053.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi hoạt động tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên như: Quyết định khởi tố bị can và đã có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp;

Đối với Viện kiểm sát, sau khi khởi tố bị can thì đã có phân công Phó viện trưởng thực hành quyền công tố, kiểm sát vụ án hình sự; quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia giám sát vụ án và đã ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Khi nhận hồ sơ vụ án thì đã ra Bản cáo trạng đúng thời hạn luật định. Sau khi ra cáo trạng thì đã giao cáo trạng cho bị can và thông báo về việc truy tối bị can trước Tòa án.

Tóm lại các cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Do vậy có thể khẳng định:

Vào khoảng 23 giờ ngày 21 tháng 10 năm 2017, Trương Quốc P đã có hành vi dùng 01 con dao nhọn cán dao bằng nhựa màu vàng dài khoảng 20cm (chuôi dao dài 10cm, lưỡi dao dài 10cm), phần rộng nhất 2,5cm của anh T1 thường dùng gọt hoa quả chém vào phần đốt xa ngón IV, ngón V bàn tay phải và ngang khớp ngón V bàn tay trái gây thương tích cho anh Đặng Khánh D với tổng tỷ lệ tổn thương cộng lùi 18%.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ và phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trương Quốc P phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại khoản 1 Điều luật quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

Khoản 2 quy đinh: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Do vậy Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng điểm, khoản và tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Quốc P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân lao động. Đồng thời còn là hành vi coi thường sức khỏe của người khác cũng như sự tôn nghiêm của pháp luật.

Xét về nhân thân bị cáo: Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, được coi là có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tuổi đời còn trẻ suy nghĩ nông cạn, trước cơ quan Điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây án gia đình bị cáo đã khắc phục được số tiền cho người bị hại (16.000.000) đồng (BL 148, 151) và tại phiên tòa gia đình bị cáo bồi thường nốt cho bị hại 1.053.000 đồng và bị cáo cũng nhất trí. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông Trương Công I mà bị cáo xuất trình trong hồ sơ, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận là từ nhỏ bị cáo ở cùng với bố mẹ, do đó ông Trương Công I không phải là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Trương Quốc P từ 30 tháng đến 36 tháng tù giam. Hội đồng xét xử xét thấy trước đó gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại được 16.000.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay người nhà bị cáo đã bồi thường tiếp cho người bị hại 1.053.000 đồng, tổng là 17.053.000 đồng, như vậy là đã bồi thường xong và người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án thấp nhất, dó đó xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hai yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm là 17.053.000 đồng, gia đình bị cáo là bà Hoàng Tuyết M trước khi mở phiên tòa đã khắc phụ hậu quả là 16.000.000 đồng, còn 1.053.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay người nhà bị cáo đã bồi thường tiếp cho người bị hại 1.053.000 đồng. Áp dụng các điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự. Xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 1.053.000 đồng. Tổng số tiền là 17.053.000 đồng. Tòa án ghi nhận Gia đình bị hại đã bồi thường toàn bộ số tiền này.

. Về điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, Tòa án xét thấy các điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, không làm khác đi việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nên áp dụng Bộ luật năm 2015 về áp dụng tình tiết giảm nhẹ.

Đối với Điều luật 134 của Bộ luật Hình sự 2015 mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng để xử phạt bị cáo, Tòa án xét thấy có căn cứ để chấp nhận vì mức cao nhất của khung hình phạt là 6 năm tù còn tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đến bảy năm tù. Như vậy áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH 14, ngày 20 tháng 6 năm 2017, thì có căn cứ để Tòa án áp dụng xử phạt bị cáo. Tuy nhiên vẫn phải áp dụng khoản 2 Điều 104 để xét xử bị cáo vì hành vi của bị cáo được thực hiện trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, thời điểm mà Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực.

Về tang vật vụ án: Không có nên không xem xét.

Do bị cáo bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vì bị cáo đã bồi thường hết số tiền thiệt hại.

. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b, p khoản 1 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60, khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1, 2 Điều 65, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trương Quốc P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào các điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự.

Xác nhận: Gia đình bị cáo Trương Quốc P là bà Hoàng Tuyết M đã bồi thường cho bị hại là anh Đặng Khánh D số tiền 17.053.000 (mười bẩy triệu không trăm năm mươi ba nghìn) đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Không có. Không xem xét.

Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Quốc P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước; bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ