vanban.org

Bản án 04/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Tuyên án 24/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo A D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khi n phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo A D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 2; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "A D vi phạm quy định về điều khiển phương tiện da thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khi n phương tiện giao thông đường bộ”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK HÀ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/HS-ST
Ngày: 24/01/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trọng Hàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Vũ Văn Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Duẩn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2017/TLST- HS ngày 20 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

A D, sinh năm 1994 tại tỉnh K T; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ M, xã Đ M, huyện Đ H, tỉnh K T; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Bah Nar; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông A Th, sinh năm 1976 và bà Y Kh, sinh năm 1971, Cùng trú tại: Thôn P Ch, xã Đ L, huyện Đ H, tỉnh K T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Chị Y Tr, sinh năm 1993.

Trú tại: Thôn K S, xã Ng R, huyện Đ H, K T. Có mặt.

+ Ông Huỳnh Văn Ch, sinh năm 1940 (đã chết).

Nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã Ng Wa, huyện Đ H, tỉnh K T.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Văn Chức:

+ Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1970 ( con trai của ông Chức); Trú tại: Thôn 7, xã Ng W, huyện Đ H, tỉnh K T, Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông A Th, sinh năm 1976 (Cha của bị cáo); Trú tại: Thôn P Ch, xã Đ L, huyện Đ H, tỉnh K T, Có mặt.

+ Anh A H, sinh năm 1997 (Em trai của bị cáo); Trú tại: Thôn Đ M, xã Đ M, huyện Đ H, tỉnh K T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1978, có mặt.

+ Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1968, vắng mặt.

+ Ông Trần Đức C, sinh năm 1973, vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn 7, xã Ng W, huyện Đ H, tỉnh K T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 ngày 01/10/2017, A D điều khiển xe môtô biển số 98K1-074.84 chở Y Trtheo đường tỉnh lộ 671 hướng xã Ng R đi thị trấn Đ H để về nhà tại thôn Đ M, xã Đ M, huyện Đ H, tỉnh K T. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi điều khiển xe môtô đến đoạn đường dốc thuộc thôn 7, xã Ng W, huyện Đ H, tỉnh K T, A D dùng chân đạp giữ hết cần số để xe xổ dốc theo quán tính đồng thời A D quay mặt qua trái để nói chuyện với Y Tr. Lúc này, ông Huỳnh Văn Ch đi bộ từ nhà anh Phạm Văn Th ra đến mép đường nhựa bên phải (theo hư ng di chuy n của e môtô) để qua đường về nhà; Y Tr phát hiện ông Ch chuẩn bị qua đường nên nói A D chú ý quan sát. Khi A D nhìn về phía trước thấy ông Ch đứng ở mép đường nhựa cách xe môtô khoảng 3m; A D nghĩ rằng ông Ch sẽ không qua đường nên A D không đạp thắng mà chỉ đánh lái qua trái để tránh; khi ông Ch qua đường thì A D không kịp xử lý đã tông vào ông Ch. ông Ch được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K T rồi tử vong sau đó.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm trên tỉnh lộ 671 thuộc thôn 7, xã Ng W, huyện Đ H, tỉnh K T. Đây là đoạn đường nhựa, mặt đường phẳng, đoạn đường dốc 4-50 (đỉnh dốc hư ng ã Ng W, chân dốc hư ng thị trấn Đ H). Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng; hai bên đường có dân cư sinh sống và vườn rẫy của các hộ dân.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông để lại xe môtô biển số 98K1-074.84 bị ngã; vị trí nạn nhân Huỳnh Văn Ch. Các vị trí trên đã được lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ H đánh dấu bằng sơn màu trắng sau khi tai nạn xảy ra. Lấy chiều hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng từ xã Ng W đi thị trấn Đ H. Tiến hành đo đạc thu được kết quả như sau:

Lòng đường rộng 3,4m; lề trái rộng 1,6m; lề phải rộng 1,6m. Xe môtô biển số 98K1-074.84 ngã nằm ở lề trái, phần chân d m số tiếp giáp với mặt đường; đầu xe quay về hướng Tây Nam; đuôi xe quay về hướng Đông Bắc. Trục trước xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 4,2m; trục sau xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 3,8m.

Vị trí đầu nạn nhân Huỳnh Văn Ch đến mép đường nhựa bên phải là 1m; đến trục trước xe môtô là 7,5m; đến trục sau xe môtô là 6,4m.

Căn cứ chiều hướng lưu thông của xe môtô và hướng di chuyển của người đi bộ cũng như các dấu vết để lại hiện trường, xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe môtô và người đi bộ chiếu vuông góc xuống mặt đường gọi là điểm đụng đầu: Điểm đụng đầu cách mép đường nhựa bên phải là 0,6m; điểm đụng đầu đến vị trí đầu nạn nhân Huỳnh Văn Ch là 1,9m; đến trục trước xe môtô là 9,3m; đến trục sau xe môtô là 8,2m.

Lấy trụ điện ký hiệu LT84 bên trái đường làm v t chuẩn. Từ v t chuẩn đến điểm đụng đầu là 18,1m; đến đầu nạn nhân Huỳnh Văn Ch là 19,6m; đến trục trước xe môtô là 25,2m; đến trục sau xe môtô là 24,3m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

hám ngoài: Chiều dài tử thi: 161cm. Thể trạng: Trung bình. Tình trạng tử thi: Khô, lạnh. Vùng đầu, mặt: Hai mặt nhắm có dấu hiệu kính râm, miệng khép hờ, mũi và miệng có máu, hai tai không có máu; Vùng trán bên trái trên cung mày có 01 vết thương còn chỉ khâu, kích thước (04x0,2)cm; sờ nắn xương sọ vùng trán có tiếng lạo xạo; Vùng trán bên phải có nhiều vết xây xát da, kích thước (7,5x9)cm; Vùng mũi có vết xây xát da, kích thước (05x02)cm. Cổ: Không thấy tổn thương. Ngực: Lồng ngực hai bên cân xứng không có dấu hiệu gãy xương. Bụng: Chướng nh . Lưng: Không thấy tổn thương. Mông: Không thấy tổn thương. Cơ quan sinh dục: Không thấy tổn thương. H u môn: Không thấy tổn thương. Tay: Mu bàn tay phải có vết xây xát da, kích thước (04x3,5)cm; hai tay không có dấu hiệu gãy xương. Chân: Vùng gối chân bên phải có vết xây xát da, kích thước (06x4,5)cm; bên ngoài chân bên phải có vết xây xát da, kích thước (2,8x0,5)cm; Vùng gối chân bên trái có nhiều vết xây xát da, kích thước (5,5x1,5)cm; Bàn ngón 1 chân bên trái có vết xây xát da, kích thước (1,8x0,7)cm; hai chân không có dấu hiệu gãy xương.

hám trong: Cắt chỉ mở rộng vết thương vùng trán bên trái thấy: Tổ chức mô cơ bầm tụ máu, xương sọ v thành nhiều mảnh thấy tổ chức não và máu.

Tại bản kết lu n giám định pháp y về tử thi số 94/TT-TTPY ngày 02/10/2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh K T kết lu n: ông Huỳnh Văn Ch chết do chấn thương sọ não.

* Kết quả giám định phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông):

i m tra bên ngoài: Gương chiếu h u, ốp nhựa đầu xe, cụm đ n trước, đồng hồ công tơ mét, ốp đ n tín hiệu sau, các bóng đ n tín hiệu sau: Không có. Gác chân người lái bên trái cong về sau 600. Đầu tay cầm lái bên trái bị rách.

i m tra hệ thống phanh: Phanh trước: Dây dẫn động phanh vào cơ cấu phanh bị bung kh i vị trí lắp ghép; phanh trước không có hiệu lực. Phanh sau: Có hiệu lực.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 19/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H , tỉnh K T đã truy tố bị cáo A D về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Hlu n tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ lu t hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo A D mức án từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Xử lý vật chứng vụ án: 01 (một) xe môtô biển số 98K1- 074.84, nhãn hiệu YAMAHA; Quá trình điều tra, xác minh xác định xe môtô biển số 98K1-074.84 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn B (sinh năm 1940; trú tại thôn Đ L, ã Qu Mi, huyện V Y, tỉnh B Gi). Vào tháng 5/2015, ông B đã bán chiếc xe môtô trên cho anh Dương Công H (sinh năm 1984; trú tại TDP3A, thị trấn Đ H, huyện Đ H, tỉnh T); đến ngày 04/9/2015 anh H bán lại chiếc xe môtô này cho A H (sinh năm 199 ; trú tại thôn Đ M, ã Đ M, huyện Đ H, tỉnh T; Là em trai của A D). Do A H, A D sinh sống cùng nhà nên A D đã tự ý lấy xe môtô biển số 98K1-074.84 để đi lại mà không báo cho A H biết. Ngày 28/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ H đã trao trả chiếc xe môtô biển số 98K1-074.84 cho A H quản lý, sử dụng nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo A D đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại Huỳnh Văn Ch số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đ ng). Đại diện theo hợp pháp của ngượi hại, ông Huỳnh Văn Đ (Là con trai ông Ch) không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét trách nhiệm dân sự.

Đối với hư h ng của xe môtô biển số 98K1-074.84: Chủ sở hữu hợp pháp là A Hcó đơn từ chối định giá tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề c p xử lý.

Đối với thương tích của Y Tr: Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Y Tr bị thương tích nh đã tự mua thuốc về nhà điều trị; hiện nay thương tích đã kh i; Y Tr có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không đề c p xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo , người đại diện theo pháp lu t của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tôi đúng như hành vi mà bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nh n của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan, bản kết lu n pháp y về tử thi, lời khai của người bị hại Y Tr, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết lu n:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/10/2017 A D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 07484 phía sau chở theo Y Tr theo đường tỉnh lộ 671 hướng đi thị trấn Đ H để về nhà, khi đến đoạn đường dốc thuộc thôn 7, xã Ng W, huyện Đ H thì A D để xe xổ dốc theo quán tính đồng thời quay mặt qua trái để nói chuyện với Y Tr. Khi quay lại phía trước phát hiện ông Huỳnh Văn Ch đáng đứng ở mép đường nhựa bên phải chuẩn bị qua đường cách khoảng 3 mét. A D nghĩ ông Chức sẽ không qua đường nên không đạp thắng mà chỉ đánh lái qua trái để tránh, khi ông Chqua đường thì A D không kịp xử lý. H u quả khiến ông Ch chết, chị Y Tr bị thương tích nh . Nguyên nhân ông Ch chết được xác định do chấn thương sọ não.

Xét bị cáo A D là người chưa có giấy phép lái xe theo quy định nhưng đã điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát và không là chủ được tốc độ nên đã gây ra tai nạn giao thông dẫn đến chết một người. Hành vi trên đã vi phạm khoản 9 Điều 8 Lu t giao thông đường bộ: “ Điều khi n e cơ gi i không có giấy phép lái e theo quy định” và khoản 1 Điều 12 Lu t giao thông đường bộ: “Người lái e, người điều khi n e máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ e chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn…” nhưng bị cáo đã không thực hiện được như v y dẫn đến làm chết ông Huỳnh Văn Ch; hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thuộc trường hợp được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ lu t hình sự.

Tại thời điểm phạm tội bị cáo A D có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi vô ý. Do v y, bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình gây ra. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp lu t bảo vệ là tính mạng, sức kh e của người khác, ảnh hưởng đến tr t tự an toàn xã hội tại địa phương. Thể hiện ý thức bị cáo trong việc tuân theo pháp lu t. Do đó cần xử lý nghiêm đối với tính chất mức độ và h u quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H đã truy tố bị cáo A D về tội “Vi phạm quy định về điều khi n phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ lu t hình sự năm 1999 ( được sửa đổi bổ sung năm 2009) là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 48 BLHS;

- Về tình tiết giảm nh : Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có nhân thân tốt; Sau khi gây tai nạn giao thông bị cáo tích cực thăm h i gia đình người bị hại và tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 75.000.000 đ (Bảy mươi lăm triệu đ ng); Gia đình người bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo;

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nh được quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; đồng thời áp dụng Điều 47 Bộ lu t hình sự để giảm nh hình phạt, để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp lu t mà cải tạo thành công dân tốt.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) xe môtô biển số 98K1-074.84, nhãn hiệu YAMAHA. Quá trình điều tra xác định chủ chủ sở hữu hợp pháp là anh A H, bị cáo A D tự ý lấy xe môtô để đi lại mà không báo cho anh A H biết nên không có cơ sở xử lý. Ngày 28/11/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện trả chiếc xe nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh A H quản lý, sử dụng. HĐXX xét thấy phù hợp nên không đề c p đến nữa.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo A D đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại Huỳnh Văn Ch số tiền 75.000.000 đ (Bảy mươi lăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại Huỳnh Văn Ch là ông Huỳnh Văn Đ nhất trí với mức bồi thường. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX xét thấy đây là sự tự nguyện th a thu n của các bên phù hợp với quy định của pháp lu t nên không đề c p đến nữa.

Đối với xe môtô biển số 98K1-074.84, số máy 3S31013773, số khung S3106Y013773, nhãn hiệu YAMAHA bị hư h ng một phần. Chủ sở hữu hợp pháp là anh A H có đơn từ chối định giá tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Đây là sự tự nguyện của anh A H phù hợp với quy định của pháp lu t nên không đề c p.

Đối với chị Y Tr là người ngồi sau xe của bị cáo A D. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Y Tr bị thương tích nh đã tự mua thuốc về nhà điều trị và đã kh i hẳn. Chị Y Tr có đơn từ chối giám định thương tích; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa chị Y Tr không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự nên HĐXX không đề c p xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo A D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại chị Y Tr; Người đại diện theo pháp lu t của người bị hại ông Huỳnh Văn Ch, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp lu t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ lu t hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Tuyên bố: Bị cáo A D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khi n phương tiện giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo A D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 2; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo A D phải nộp 200.000 đ (Hai trăm ngàn đ ng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ lu t tố tụng hình sự 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/01/2017) bị cáo; người bị hại chị Y Tr; người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 và Lu t thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự”./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ