- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Án ly hôn giữa Trần Thị T và Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2018/HNGĐ - ST Ngày: 15/01/2018. V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà: Phạm Thị Mai 2.Bà: Nguyễn Thị Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Ngày 15 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2017/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐST- HNGĐ ngày 02/01/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn X, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn X, xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt.( Có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2017, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày như sau: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào ngày 28/12/2015 do hai bên tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2017 đó cho đến nay. Tình cảm vợ chồng là không còn nữa chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị không có con chung.
Về chia tài sản và nợ: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn: Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 22 tháng 12 năm 2017 anh Nguyễn Văn H có ý kiến: Anh đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập,Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nhưng vì lý do công việc nên anh không đến làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án, anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh và anh có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: tình cảm vợ chồng không còn nữa, anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị T.
Về nuôi con chung: Vợ chồng anh không có con chung.
Về chia tài sản và nợ:Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: §©y lµ vô ¸n thuéc tr êng hîp Tòa án kh«ng tiÕn hµnh hoµ gi¶i được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn có tình vắng mặt được quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 207 của Bé luËt tè tông d©n sù. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Lê Nguyễn Văn H là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 28/12/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp,vợ chồng không thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 6 năm 2017 và hai bên đã sống ly thân cho đến nay. Chị Trần Thị T xin ly hôn thì anh Nguyễn Văn H cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn H chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T, xử cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị Trần Thị Thúy và anh Nguyễn Văn Hải không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản và nợ: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về án phí: Chị Trần Thị T
300.000 (Ba trăm ngàn) hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng
0001199 ngày 16/11
, tỉnh Nghệ An.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS huyện Thanh Chương; - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương; - UBND xã TT, H.TC; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TrÇn V¨n Dòng |