vanban.org

Bản án 04/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L.

Về án phí: Ông Phạm Văn V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002713 ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn V và Phạm Thị L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 31/01/2018
V/v không công nhận quan hệ
vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhạn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thanh;

2. Bà Phạm Thị Vĩnh.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gấm là Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2017/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2017 về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXX-STngày 15 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1968, trú tại: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1962, đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn V trình bày:

Ông và bà Phạm Thị L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 và có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới ông V và bà L chung sống cùng nhau tại thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cách sống không phù hợp nên vợ chồng không tôn trọng nhau và nhiều lần xảy ra đánh chửi nhau mất tình cảm. Bà L nhiều lần xúc phạm ông và gia đình ông. Mỗi lần vợ chồng mâu thuẫn, bà L lại bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Ông V đã nhiều lần đi tìm bà L về nhưng chỉ được một thời gian bà L lại bỏ đi. Đến tháng 5 năm 2017 bà L bỏ đi và sống ly thân với ông từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay ông V xét thấy không còn tình cảm với bà L nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị L.

Về con chung: Ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L có 02 con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 và Phạm Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1999. Hiện cả hai con của ông bà đã trưởng thành nên vấn đề nuôi dưỡng ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Ông V tự thoả thuận với bà L, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai của bà Phạm Thị L thể hiện: Bà thống nhất với ông V về thời gian, điều kiện chung sống nhưng vợ chồng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống nhiều xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách, lối sống vợ chồng không phù hợp nhau, bất đồng quan điểm trong mọi lĩnh vực, vợ chồng không có sự tin tưởng nhau, không có sự chia sẻ và quan tâm nhau nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, ông V nhiều lần đánh bà. Vợ chồng mâu thuẫn bà bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã T, huyện A, Hải Phòng, ông V tìm bà lại về chung sống vì thương các con. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình khuyên can nhưng ông V không thay đổi cách sống. Đến tháng 5 năm 2017 bà bỏ về quê ở xã T, huyện A và sống ly thân với ông V từ đó đến nay. Bà L xét thấy không còn tình cảm với ông V nên ông V có đơn xin ly hôn bà L đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Bà L thống nhất bà và ông V có 02 con chung họ, tên, tuổi như ông V trình bày. Hiện hai con ông bà đã trưởng thành nên vấn đề nuôi dưỡng không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Bà tự thoả thuận với ông V, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà từ khi thụ lý vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa đến trước thời điểm Nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn ông Phạm Văn V đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn bà Phạm Thị L không đến tham gia phiên tòa nhưng bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2016 đề nghị Hội đồng xét xử: Xử không công nhận ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L là vợ chồng; về con chung: Ông V và bà L có 02 con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 và Phạm Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1999, hiện các con của ông bà đã trưởng thành ông V, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, công nợ: Ông V và bà L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông Phạm Văn V phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Phạm Thị L là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nhưng bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 tại thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có chung quan điểm, tính cách lối sống không phù hợp nhau. Vợ chồng sống không có sự chia sẻ, tin tưởng nhau nên nhiều lần xảy ra đánh chửi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; ông bà đã sống ly thân nhau từ tháng 5 năm 2017 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T xác định ông V và bà L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 Nghị quyết của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2016. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L.

Về con chung: Ông V và bà L có 02 con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 và Phạm Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1999 hiện đã trưởng thành vấn đề nuôi dưỡng ông V và bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ: Ông V và bà L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Phạm Văn V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 Nghị quyết của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L.

2. Về án phí: Ông Phạm Văn V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002713 ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão. Ông V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo bản án:

Ông Phạm Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bà Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ