- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA H-V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lê Thanh V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/HNGĐ-ST Ngày: 23-01-2018 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Nghi – Phó Phòng giáo dục huyện Phú Hòa.
Bà Phan Thị Thúy Hằng – Cán bộ hưu trí huyện Phú Hòa.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Kỳ - Kiểm sát viên.
Từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 184/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1991, có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Thanh V – sinh năm 1987, có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
Trú cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H đăng ký kết hôn tự nguyện với anh Lê Thanh V vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc và sống tại nhà anh V ở An Giang, ở đây sau khi sinh con gái vào năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, anh V không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt về đánh đập vợ con. Cách đây gần 02 năm chị H và anh V cùng với con gái về sống chung tại quê chị H thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Nhưng anh V vẫn tính nào tật nấy, không lo làm ăn chăm lo cho gia đình mà còn thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay chị H thấy không thể duy trì cuộc sống hôn nhân với anh V thêm nữa, tình cảm vợ chồng cũng không còn nên mong Tòa án sớm giải quyết cho chị H được ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị H và anh V có 01 con chung là Lê Thị Tuyết Đ – sinh ngày 30/01/2014, hiện nay cháu Đ đang sống với anh V. Ly hôn, chị H mong muốn được nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H và anh V tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản trình bày và tại các biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Thanh V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh V thống nhất với lời trình bày của chị H về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhiều, anh V có đánh chị H 01 lần nhưng chị H không tha thứ cho anh V và xin ly hôn, những gì chị H trình bày về việc anh V thường xuyên xay xỉn, không lo làm ăn chăm lo cho gia đình là không đúng. Anh V xác định vẫn con tình cảm với chị H và vì con còn nhỏ nên anh V không đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh V và chị H có 01 con chung là Lê Thị Tuyết Đ – sinh ngày 30/01/2014, hiện nay cháu Đ đang sống với anh V. Ly hôn, anh V mong muốn được nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh V và chị H tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày, tranh luận của các đương sự tại phiên tòa hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lê Thanh V.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị H buộc anh Lê Thanh V phải giao con chung Lê Thị Tuyết Đào cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nên không xét.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Thanh V đã tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về nội dung giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh V đăng ký kết hôn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66, quyển số I/2013 vào ngày 18/4/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án từ tháng 10/2017 Tòa án đã cho chị H và anh V thời gian để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng từ đó đến nay chị H đã bỏ đi làm việc ở Đà Lạt và sống ly thân với anh V cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh V vì tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Biên bản xác minh ngày 28/12/2017 tại thôn P, xã H xác định anh V thường xuyên ăn nhậu, vợ chồng anh V, chị H thường xuyên xảy ra cãi vã nhưng chính quyền địa phương chưa hòa giải lần nào. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh V.
Về con chung: Chị H và anh V có 01 con chung là Lê Thị Tuyết Đ – sinh ngày 30/01/2014, hiện nay cháu Đ đang sống với anh V. Tại buổi hòa giải ngày 06/11/2017 chị H thống nhất giao con chung cháu Đ cho anh V nuôi dưỡng nhưng tại phiên tòa hôm nay chị H xin dược quyền nuôi dưỡng cháu Đ vì thời gian qua anh V nuôi dưỡng con không tốt, HĐXX nhận thấy việc anh V thường quyên ăn nhậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi dưỡng cháu Đ, mặt khác cháu Đ là con gái nên để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý của cháu Đ HĐXX áp dụng các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung Lê Thị Tuyết Đ cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.
Về tài sản chung: Chị H và anh V đã tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị H được chấp nhận yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Lê Thanh V.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Thanh V có 01 con chung là Lê Thị Tuyết Đ – sinh ngày 30/01/2014, hiện nay cháu Đ đang sống với anh V. Chấp nhận yêu cầu của chị H buộc anh Lê Thanh V phải giao con chung Lê Thị Tuyết Đ cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nên không xét.
Bên không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Thanh V đã tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 7727 ngày 19/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, chị H đã thi hành xong.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Thanh V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND H.P; -Chi cục THADS H.P; -TAND tỉnh Phú Yên; -UBND xã M, huyện L, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thanh Hưng |