vanban.org

Bản án 04/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.

Về con chung: Anh Phạm Văn Đ, chị Nguyễn Thị T có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999. Con chung đã thành niên, tự lao động, sinh sống được, anh Đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "VỤ ÁN "KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG" GIỮA NĐ PHẠM VĂN Đ VÀ BĐ: NGUYỄN THỊ T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 10- 01- 2018
V/v không công nhận vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Một

2. Bà Đặng Thị Phương Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 10/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 712/2017/TLST-HNGÑ ngày 16/10/2017 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2017/QĐXXST-DS ngày 30/11/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 52/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1969. Nơi cư trú: ấp LT, xã LG, huyện ĐH, tỉnh LA (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970.

Nơi cư trú: Số 9, đường số 57 ĐBP, khu phố NT, phường NS, thành phố TN, tỉnh TN (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:

Anh Đ và chị T chung sống vợ chồng vào năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không thể dung hòa được, vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau. Anh chị không tìm được biện pháp khắc phục nên đã sống ly thân từ tháng 8/2011 đến nay. Anh yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999. Con chung đã thành niên và tự lao động, sinh sống được nên anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Đ chung sống như vợ chồng vào năm 1993, nhưng không đăng ký kết hôn, chị T xác nhận lời trình bày của anh Đ về thời gian chung sống vợ chồng, việc anh chị không đăng ký kết là đúng. Nay chị cũng thống nhất theo yêu cầu của anh Đ yêu cầu Tòa án không công nhận anh, chị là vợ chồng.

Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999. Con chung đã thành niên và tự lao động, sinh sống được nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị T chung sống như vợ chồng vào năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn là trái quy định pháp luật nên không công nhận mối quan hệ giữa anh Đ và chị T là vợ chồng; Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999, con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Đ có đơn yêu cầu xin ly hôn với chị T, hiện chị T đang cư trú tại địa chỉ: Số 9, đường số 57 ĐBP, khu phố NT, phường NS, thành phố TN, tỉnh TN. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TN.

Về quan hệ hôn nhân: Năm 1993 anh Đ, chị T chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Tháng 9/2011 anh Đ, chị T không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay anh Đ, chị T đều thống nhất đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng. Vì vậy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ.

Về con chung: Anh Đ. chị T có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999. Con chung đã thành niên, tự lao động, sinh sống được, anh Đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh Đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: Không công nhận quan hệ giữa anh Đ và chị T là vợ chồng; về con chung: Đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị này phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:Theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì anh Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Văn Đ và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.

2. Về con chung: Anh Phạm Văn Đ, chị Nguyễn Thị T có 02 con chung tên Phạm Thị Tố T, sinh năm 1993 và Phạm Ngọc T, sinh ngày 20/9/1999. Con chung đã thành niên, tự lao động, sinh sống được, anh Đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh Đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp 300.000đ tại biên lai thu số 0004619 ngày 13/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN. Anh Đ đã nộp đủ án phí.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh TN.

Cỡ chữ