vanban.org

Bản án 04/2018/DSST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị C. Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Chiên ly hôn Nguyễn Văn Minh"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Toà án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 04/2018/DSST
Ngày: 31/7/2018
“V/v tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thông.

2. Bà Nguyễn Thị Đương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án Nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 45/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Phạm Thị C, sinh năm 1982.

Địa chỉ: thôn Nam, xã P, huyện H, tỉnh Q. Có mặt.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1977.

Địa chỉ: thôn Nam, xã P, huyện H, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02/5/2018 và bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị C có quan điểm như sau:

Năm 2011, chị và anh Nguyễn Văn M được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện H. Vợ chồng chung sống với nhau một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, hai bên thường xuyên tranh cãi nhau. Anh M bỏ đi làm ăn xa, không quan tâm đến vợ con, gia đình, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Hồng Long, sinh ngày 21/7/2012. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và khoản nợ: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn M: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Nhân dân huyện H đã tiến hành niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời yêu cầu anh M cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân, quan điểm trong việc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, anh M không đến Tòa án cũng như không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào về các yêu cầu của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện H đã tiến hành xác M tại thôn Nam, xã P, huyện H về tình trạng hôn nhân của chị C, anh M và được ông Nguyễn Văn Cường – Trưởng thôn Nam, xã P cung cấp thông tin: Chị C và anh M sau khi kết hôn sinh sống tại xã thôn Nam, xã P, huyện H. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không hòa thuận, hàng xóm nhiều lần khuyên can nhưng không được. Anh M đi làm ăn ở xa, thỉnh thoảng mới về nhà, vợ chồng gần như sống ly thân từ lâu. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị C được ly hôn với anh M theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa chị Phạm Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn M và nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản và khoản nợ chung. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về trình tự, quá trình giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Thông báo thụ lý, Kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải đúng pháp luật. Tại phiên tòa: Thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng. Những người tham gia tố tụng về cơ bản đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia phiên họp, phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ kết hợp với việc hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, đối chiếu với quy định tại các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Việc bị đơn Nguyễn Văn M đã được triệu tập đến phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Phạm Thị C và anh Nguyễn Văn M có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, là hôn nhân tiến bộ và hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện nay, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, kéo dài, hai bên đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về kinh tế và tình cảm. Do đó, yêu cầu của chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M là có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hồng Long, sinh ngày 21/7/2012. Tại phiên tòa chị C trình bày: Từ khi kết hôn đến khi sinh con, anh M thường xuyên đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà, việc chăm sóc con đều do chị đảm nhiệm. Đến nay, cháu Long còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ nên chị mong muốn được nuôi dưỡng cháu Long đến tuổi thành niên và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về vấn đề này Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh M mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án, không thể hiện quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện tại chị C đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Long và có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Long được phát triển toàn diện về mọi mặt. Để bảo vệ và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ chưa thành niên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C để chị được nuôi dưỡng cháu Long đến tuổi thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và khoản nợ: Chị C không đề nghị nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết, dành cho hai bên đương sự quyền khởi kiện vụ án dân sự khi một trong hai bên có yêu cầu.

Về án phí: Chị Phạm Thị C phải nộp án phí vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị C.

2. Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

3. Giao con chung Nguyễn Hồng Long, sinh ngày 21/7/2012 cho chị Phạm Thị C trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 7/2018 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Chị C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002742 ngày 09/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ