vanban.org

Bản án 04/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị B. Buộc bà Ngô Thị H phải trả cho bà Mai Thị B số tiền nợ hụi 83.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền gốc, hàng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn bà Mai Thị B khởi kiện bà Ngô Thị H đòi nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị B. Buộc bà Ngô Thị H phải trả cho bà Mai Thị B số tiền nợ hụi 83.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/DS-ST
Ngày: 03 - 7 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự
về góp hụi, họ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Tường Vy,

Ông Đỗ Cao Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2017/TLST-TCDS ngày 21 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi, họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị B, địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Viết T, địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt theo văn bản ủy quyền ngày 28/11/2017.

2. Bị đơn: Bà Ngô Thị H, địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn, người đại diện theo nguyên đơn trình bày: Bà Mai Thị B nghe bà Ngô Thị H nói có thành lập hụi và rủ bà B tham gia, bà B đồng ý vì nghĩ rằng góp hụi khi bốc sẽ có khoản tiền lớn để giải quyết nhu cầu gia đình. Theo quy định lần đầu chủ hụi bốc không trích tiền cho các thành viên, từ tháng tiếp theo các hội viên ai có nhu cầu bốc thì viết số tiền trích lại cho hụi vào giấy, hụi viên nào để lại số tiền nhiều hơn thì sẽ được bốc trước, số tiền để lại chia cho các hụi viên.

Bà Mai Thị B nộp cho bà Ngô Thị H (chủ hụi) 83.000.000 đồng (Tám mươi ba triệu đồng), đến tháng 11 năm 2015 thì bà H không thu tiếp tiền và cũng không hoạt động nữa. Quá trình tham gia hụi, bà B được nhận lại 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) được chia lãi từ những người bốc hụi trước để lại qua các kỳ bốc hụi.

Tháng 11 năm 2015 đến nay, bà H không nói gì và cũng không trả cho bà B đồng nào. Bà Mai Thị B đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà H trả cho bà B số tiền 83.000.000 đồng, tiền lãi từ tháng 6/2015 đến tháng 11/2017 là 22.825.000 đồng và tiền lãi từ tháng 12/2017 đến ngày Tòa án xét xử theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Tại bản tự khai ngày 12 tháng 12 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ngô Thị H trình bày: Năm 2014, bà Ngô Thị H là tiểu thương tại chợ M, các chị em trong chợ M tín nhiệm và bầu bà H làm trưởng hội và nhờ bà Hgiữ tiền hội cho chị em, trong đó có bà Mai Thị B. Mỗi tháng, bà B nộp cho bà H 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) theo thời gian 10 ngày nộp một lần 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), kể từ tháng 11/2014 cho đến khi hết hội là tháng 11/2015. Tổng số tiền bà B nộp cho bà H 83.000.000 đồng (Tám mươi ba triệu đồng). Do đến thời điểm đó, các con hụi khác bốc hụi mà không nộp cho bà H nữa nên bà H không có tiền trả cho bà B. Hiện nay, bà Mai Thị B khởi kiện bà sẽ trả cho bà B số tiền trên, nhưng đề nghị bà B cho bà trả dần vì hiện tại bà không có khả năng để trả một lần cho bà B. Còn đối với khoản tiền lãi bà B yêu cầu, bà H không chấp nhận vì bà không đi vay, không thế chấp, do bà B tự nguyện nộp cho bà để bà B được hưởng lãi.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 4 năm 2018, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là chồng của bà Ngô Thị H, năm 2013 vợ ông là bà H được mọi người tín nhiệm bầu làm chủ hội và tự nguyện nộp tiền chơi hụi để lấy lãi. Bản thân vợ ông tự lập, tự chơi cùng các thành viên khác và lấy tiền sử dụng vào mục đích gì ông hoàn toàn không biết. Hiện nay, bà Mai Thị B khởi kiện yêu cầu vợ ông trả tiền đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, Ông không liên quan đến việc này nên không có trách nhiệm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng thẩm quyền, nghĩa vụ tố tụng và có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: Căn cứ giấy nhận nợ thì bà Ngô Thị H còn nợ của bà Mai Thị B số tiền 85.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án hai bên thống nhất số tiền bà H còn nợ bà B 83.000.000 đồng nhưng không thỏa thuận được phương thức trả nợ. Căn cứ Điều 471, 468 của Bộ luật dân sự; các điều 10, 17, 18, 19, 21, 22, 27, 29, 31 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B buộc bà H phải trả cho bà B tiền nợ gốc và tiền lãi theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Mai Thị B khởi kiện bà Ngô Thị H yêu cầu trả tiền hụi còn nợ chưa thanh toán, các đương sự có nơi cư trú tại địa bàn huyện Quảng Ninh. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi, họ” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do giao dịch được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 và đang được thực hiện nên áp dụng quy định tại điểm b Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, áp dụng Điều 471, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường để giải quyết trong vụ án này.

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho các đương sự và tiến hành các bước theo đúng quy định của pháp luật. Bà Ngô Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H, ông H.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu, ý kiến của các bên đương sự đã thống nhất xác nhận số nợ hụi tổng cộng 83.000.000 đồng mà bà Ngô Thị H còn nợ bà Mai Thị B, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc bà H còn nợ của bà B 83.000.000 đồng là có thật, do đó cần xem xét buộc bà H có trách nhiệm trả cho bà B số tiền 83.000.000 đồng.

Về yêu cầu tính lãi: Bà Mai Thị B yêu cầu bà Ngô Thị H trả lãi từ tháng 6/2015 đến ngày Tòa án xét xử vụ án, nhưng bà H không chấp nhận vì cho rằng Bà không vay mượn gì của bà B, việc góp hụi do bà B tự nguyện; tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu tính lãi từ tháng 12 năm 2015 đến ngày xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, tại Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 quy định: “Chủ họ phải trả lãi đối với các phần họ giao chậm theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì áp dụng theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian giao chậm tại thời điểm giao các phần họ”; tại Điều 573 của Bộ luật dân sự quy định: “Lãi phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Bà H đã giữ tiền của bà B từ tháng 12/2015, tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 10% năm. Vì vậy, cần buộc bà H phải trả tiền lãi cho bà B từ tháng 12 năm 2015 đến khi xét xử theo mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu 10% năm là phù hợp với Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Như vậy, số tiền lãi bà H phải trả cho bà B 83.000.000 đồng x 10% năm x 30 tháng thành tiền 20.040.000đồng.

Về thời hạn trả nợ: Bà H xin trả dần số tiền 83.000.000 đồng, nhưng bà B không chấp nhận. Xét yêu cầu xin trả dần của bà H làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà B, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm cùng bà H trả số nợ cho bà B. Tuy nhiên, bà Ngô Thị H, ông Nguyễn Văn H cho rằng việc bà H chơi hụi ông H không biết và trong sổ ghi nợ hụi cũng không có chữ ký của ông H. Do đó, không buộc ông H phải có trách nhiệm trả nợ cùng bà H.

Về án phí: Bà Ngô Thị H phải chịu án phí 5.152.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 13, Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà H có đơn xin miễn, giảm án phí vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử xét giảm 50% án phí cho đương sự, như vậy bà H phải nộp 2.576.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, điều 271, 773 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 688, Điều 471, điều 357 và điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 10, 17, 18, 19, 21, 22, 27, 29, 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 13, Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị B. Buộc bà Ngô Thị H phải trả cho bà Mai Thị B số tiền nợ hụi 83.000.000đ (Tám mươi ba triệu đồng) và tiền lãi 20.040.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền gốc, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Ngô Thị H phải nộp 2.576.000 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Trả lại cho bà Mai Thị B số tiền 2.125.000đ (Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/No 0001079 ngày 21/11/2017 và 570.000 đồng (Năm trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/No 0001137 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ