vanban.org

Bản án 04/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà N T B P.

Buộc bà N T B P phải thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP X số tiền 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng). Kể từ ngày Ngân hàng TMCP X có đơn yêu cầu thi hành án, bà N T B P phải trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc (là 25.461.129 đồng) theo hợp đồng tín dụng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà N T B P.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/DS-ST
Ngày: 17 - 01- 2018
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC-TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hưởng.

2/ Bà Nguyễn Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 462/2017/TLST - DS ngày 30 tháng 11 năm 2017 về việc: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X.

Địa chỉ trụ sở: Số 89 A, phường B, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông N C D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà V T N N, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp Y, xã T P, huyện B L, tỉnh Long An.

( Theo văn bản ủy quyền ngày 30/10/2017).

Bị đơn: Bà N T B P, sinh năm 1981

Địa chỉ: Số 141 E, Khu phố F, thị trấn G, huyện B L, tỉnh Long An.

(Bà N có mặt. Bà P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Vỏ Thị Ngọc Ngân đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 19/3/2015, Ngân hàng TMCP X đã ký hợp đồng tín dụng số 20150322-200008-0001 với bà N T B P vay số tiền 28.823.839 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà P có trách nhiệm trả số tiền 53.743.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng thanh toán số tiền 1.473.000 đồng, tháng cuối cùng thanh toán 2.188.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/5/2015. Bà P đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho Ngân hàng được 11 lần với tổng số tiền là 8.889.000 đồng. Kể từ ngày 22/3/2017, bà P không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho tới nay, mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở yêu cầu thanh toán nhiều lần.

Nay Bà N đại diện Ngân hàng TMCP X yêu cầu bà N T B P thanh toán một lần cho Ngân hàng số tiền nợ đến hạn là 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng).

Ngoài ra, Bà N không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn N T B P vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại bản tự khai, biên bản hòa giải và phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 20/12/2017, bà P trình bày: Bà xác nhận lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về nội dung hợp đồng tín dụng, quá trình thực hiện hợp đồng và số nợ còn lại là đúng. Nay Ngân hàng TMCP X khởi kiện yêu cầu bà phải thanh toán một lần số tiền là 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng), bà đồng ý trả nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng TMCP X khởi kiện yêu cầu bà N T B P phải thanh toán một lần cho Ngân hàng số tiền nợ tới hạn là 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng). Nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và còn trong thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điểm a, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Đối với bị đơn bà N T B P đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Xét thấy, hợp đồng tín dụng số 20150322-200008-0001 ngày 19/3/2015 giữa Ngân hàng TMCP X với bà N T B P được hai bên ký kết là hoàn toàn tự nguyện, đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật về giao dịch dân sự. Ngân hàng TMCP X đã giải ngân cho bà P. Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện bà P mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 11 lần với tổng số tiền là 8.889.000 đồng. Kể từ ngày 22/3/2017 đến nay, bà P không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào, mặc dù Ngân hàng TMCP X đã nhắc nhở yêu cầu thanh toán nhiều lần.

Việc bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa hai bên làm cho quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P thừa nhận số nợ như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày là đúng, và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi khi hết nợ nhưng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà P phải thanh toán một lần số tiền nợ tới hạn là 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng) là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng, phù hợp quy định tại các Điều 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên chấp nhận.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà N T B P phải chịu 43.658.595 đồng X 5% = 2.182.929 đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP X theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 474, 476, 478 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà N T B P.

2. Buộc bà N T B P phải thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP X số tiền 43.658.595 đồng (trong đó nợ gốc là 25.461.129 đồng, nợ lãi là 18.197.466 đồng).

Kể từ ngày Ngân hàng TMCP X có đơn yêu cầu thi hành án, bà N T B P phải trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc (là 25.461.129 đồng) theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N T B P phải chịu 2.182.929 đồng án phí DSST sung Ngân sách Nhà nước.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X tiền tạm ứng án phí 1.121.350 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 05941 ngày 30/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ