- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chap HD chuyen nhuong QSDD Hong - Phuong"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Luật Đất đai; Điều 128 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/DS-ST Ngày:17- 5- 2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất” |
NH DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường
Các Hội thẩm nH dân: 1. Ông Nguyễn Ngo ̣c Quý
2. ÔngTrần Văn Huề
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắc Hùng -Thư ký Toà án huyện C.
-Đại diện Viện kiểm sát nH dân huyện C tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thi ̣ Mai - Kiểm sát viên
Ngày 17-5-2018, tại trụ sở Toà án nH dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 38/2017/TLST-DS ngày 18-10-2017 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-DS ngày 26-4-2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lƣơng Thi ̣ H, sinh năm 1963
Cư trú ta ̣i đi ̣a chi: Số nhà 167, tổ 37, phườ ng Trung Hòa, quâ ̣n Cầu Giấy, Thành
̉ phố Hà Nô ̣i, có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Trịnh Duy H, sinh năm 1966, có mặt.
2.2. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1973 (vợ ông H), có mă ̣t.
Đều cư trú tại đi ̣a chi: Thôn C, xã̉
N, huyện C, Thành phố H.
3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thi ̣ H, sinh năm 1970, có mặt.
Cư trú tại đi ̣a chi: Thôn C, xã̉
N, huyện C, Thành phố H, có mặt
NỘI DUNG VỤ Á N:
1. Trong đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tại các bản khai, nguyên đơn là bà Lương Thi ̣ H trình bày:
Ngày 19-4-2010, bà Lƣơng Thi ̣ H có ủy quyền cho bà Nguyễn Thi ̣ H trực tiếp thoả thuận ký kết “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với vợ cH ông Trịnh Duy H và bà Phạm Thị P. Nô ̣i dung thỏa thuận chuyển nhượng phần đất ở diê ̣n tích khoảng 50m2 vớ i giá chuyển nhượng là 7.000.000 đồng/m2, tổng giá tri ̣ là 374.500.000 đồng, tiền đă ̣t co ̣c khi giao kết là 20.000.000 đồng, khi có xác nhận của UBND xa thĩ thanh toán tiếp 280.000.000 đồng, khi có giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử
̀ dụng đất (tứ c bia đỏ) thì thanh toán nốt số tiền còn lại.
̀
Khi ký kết “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”, bà H đa đưã
20.000.000 đồng tiền co ̣c cho ông H, bà P. Ngày 04-5-2010 hai bên đã lâ ̣p “Biên bản xá c nhận kích thước thửa đất ” xác định phần đấ t chuyển nhượng là 53,5m2 có xác nhận của cán bộ địa chính và Chủ tịch UBND xã N. Đến ngày 10-5-2010, bà H thanh toán cho ông H, bà P số tiền 280.000.000đồng; Ngày 17-5-2010 bà H thanh toán cho ông H, bà P số tiền 20.000.000đồng. Tổng số tiền bà H đa thanh to án cho ông H, bà P là̃ 320.000.000 đồng; còn lại 54.500.000đồng chờ làm thủ tục tách bìa đỏ xong sẽ thanh toán nốt. Từ năm 2012 đến năm 2017, bà H đa kê khai vã
̀ nô ̣p thuế cho UBND xa Ñ đối vớ i diê ̣n tich đất nhâ ̣n chuyển nhượng 53,5m2.
́
Tuy nhiên, trên thực tế thì ông H, bà P vẫn chiếm giữ không bàn giao phần đất chuyển nhượng 53,5m2 nên bà H đề nghị UBND xã N giải quyết. Khi giải quyết tại UBND xa N thì bà mới biết phầ n đẫ
́t nhận chuyển nhượng 53,5m2 thuô ̣c thử a đất giãn dân 150m2 đa đượ̃
c UBND huyê ̣n Chương My cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất cho ông Tri ̣nh Duy H từ năm 2013 nhưng ông H không làm thủ tu ̣c tách thử a sang tên cho bà.
Nguyên đơn bà Lương Thi ̣ H khở i kiê ̣n yêu cầu được công nhâ ̣n hi ệu lực của “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19/4/2010” và buô ̣c ông Tri ̣nh Duy H, bà Phạm Thị P phải giao và làm thủ tục tách thửa 53,5m2 đất chuyển nhượng cho bà Lương Thi ̣ H theo đúng cam kết chuyển nhượng . Nếu hợp đ ồng chuyển nhượng không được pháp luâ ̣t công nhâ ̣n hiê ̣u lực thì ông H, bà P phải hoàn trả số tiền 320.000.000đồng đa nhâ ̣̃
n và bồi thường thiệt hại theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
2. Bị đơn - Ông Trịnh Duy H xác nhận và trình bày:
Năm 2002, UBND huyện C xét duyệt cho hộ cụ Trịnh Duy H (bố đẻ ông H) 150m2 đất giãn dân nhưng đến năm 2006 mới được giao đất.
Năm 2010, cụ H có ủy quyền miệng cho vợ cH ông Tri ̣nh Duy H, bà Pha ̣m Thi ̣ P chuyển nhượng mô ̣t phần đất thuộc thử a đất trên cho bà Lương Thi ̣ H ở phường Trung Hòa , quâ ̣n Cầu Giấy , Thành phố Hà Nội . Theo giấy chuyển nhượng ký kết ngày 19-4-2010 thỏa thuận chuyển nhượng khoảng 50m2 đất, giá chuyển nhượng là 7.000.000 đồng/m2. Về phần thanh toán được thỏa thuận đă ̣t co ̣c 20.000.000 đồng, sau khi lâ ̣p giấy tờ có xá c nhâ ̣n của xa N phải thanh toán 280.000.000 đỗ
̀ng, ngày 17-5-2010 trả tiếp 20.000.000 đồng, đến ngày 10-6-2010 trả số tiền còn lại sẽ bàn giao đất cho bà H được phép xây dựng.
Đến ngày 04-5-2010, ông H cùng bà H và anh Trịnh Duy T (là ngườ i môi giớ i , đa chết năm 2013) ra UBND xã
N xác định phần đất chuyển nhượ̃
ng là 53,5m2. Bà H đã thanh toán tiền cho ông H, bà P số tiền 320.000.000 đồng, còn lại chưa thanh toán 54.500.000 đồng.
Ông H trình bày ngoài giấy chuyển nhượng viết tay ngày 19-4-2010, hai bên còn ký kết bản hợp đồng chuyển nhượ ng đất ngày 20-5-2010 được UBND xa N chứng̃ thực. Đến ngày 04-6-2010 do bên mua muốn lấy lại tiền nên cụ Trịnh Duy H (bố đẻ ông H) đa trả lại cho bã
̀ H số tiền 290.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng được trừ vào tiền phạt cọc và tiền tháo dỡ công trình trên đất chuyển nhượng. Khi hoàn trả tiền thi cu ̣ H đa thu la ̣̃
i Hợp đồng chuyển nhượng ngày 20-5-2010 có chứng thực của
̀ xã N.
Ông H cho rằng viê ̣c chuyển nhượng đất đa đượ̃
c các bên thỏa thuâ ̣n hủy bỏ, cụ H đa trả lại tiền nên đã
giã ̉i quyết xong. Nay ông mớ i biết ngườ i trực tiếp mua đất là bà Nguyễn Thị H không phải bà Lương Thi ̣ H có tên trên giấy chuyển nhượng. Ông H không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lương Thi ̣ H và đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị H trình bày:
Do biết gia đinh ông Tri ̣nh Duy H, bà Phạm Thị P cần bán đất gian dân để trả nợ̃
̀ nên bà giớ i thiê ̣u cho bà Lương Thị H mua đất. Bà Lương Thị H nhất trí mua nên đã ủy quyền cho bà trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng , thanh toán tiền và làm các thủ tục chuyển nhượng khác. Bà Nguyễn Thị H xác nhận đã ký thay tên bà Lương Thị H trên “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” và ký nhận các lần giao tiền với vợ cH ông H, bà P. Tổng số tiền bà đa đưa cho ông H, bà P là̃ 320.000.000đồng, còn lại 54.500.000đồng chưa thanh toán do chờ làm thủ tu ̣c tách bìa đỏ xong se thanh toã
́n theo thỏa thuận.
Bà H khẳng đi ̣nh chỉ thỏa thuận mua bán đất với vợ c H ông H, bà P theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” và “Biên bản xá c nhận kich
́ thướ c thử a đất ngày 04-5-2010”, ngoài ra không có bản hợp đồng nào khác, viê ̣c cụ H trả lại cho bà số tiền 290.000.000 đồng và hủy bỏ hợp đồng như trinh bày của ông
̀ H là không đúng, yêu cầu ông H phải có chứng cứ chứ ng minh. Bà Nguyễn Thi ̣ H đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị H.
4. Ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa:
4.1. Ý kiến củ a Nguyên đơn: Trước khi khởi kiện thì bà Lương Thị H có đơn đề nghị Công an huyện giải quyết, ông H đã khai nhận chưa trả cho bà số tiền 320.000.000 đồng nhưng nay lại khai cụ H đã trả lại 290.000.000 đồng là không đúng. Khi giải quyết tại Công an huyện, ông H nhất trí giao trả cho bà 53,5m2 đất nhưng đòi bà phải thanh toán 100.000.000 đồng (gồm 54.500.000 đồng chưa thanh toán và tiền lãi ngày) nhưng bà chỉ nhất trí trả 54.500.000 đồng và tiền lãi ngân hàng nên các bên không thống nhất được hướng giải quyết.
Bà Lương Thị H vẫn giữ nguyê n yêu cầu được công n hâ ̣n hiệu lực của “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” và “Biên bản xá c nhận kich
́ thướ c thử a đất ngày 04-5-2010”, buô ̣c ông Tri ̣nh Duy H, bà Phạm Thị P giao trả 53,5m2 đất theo đúng cam kết.
Tuy nhiên, bà Lương Thị H thừa nhận việc giao kết chuyển nhượng với ông H, bà P là không đúng chủ sử dụng đất do giấy tờ đất đứng tên hộ cụ Trịnh Duy H, nếu hợp đồng không được pháp luâ ̣t công nhâ ̣n hiê ̣u lực thi buô ̣c ông Tri ̣nh Duy H, bà
̀ Phạm Thị P phải hoàn trả cho bà số tiền 320.000.000 đồng đa nhâ ̣̃
n và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
4.2. Ý kiến của bi ̣ đơn ông Tri ̣nh Duy H, bà Phạm Thị P:
Tại phiên tòa ông H, bà P thống nhất trình bày: Cụ Trịnh Duy H ủy quyền miệng cho ông H, bà P ký kết “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” chuyển nhượng 53,5m2 đất cho bà Lương Thi ̣ H nhưng thực tế la ̣i là bà Nguyễn Thị H; ông H, bà P xác nhận đa nhâ ̣̃
n tiền chuyển nhượng đất của bà H là 320.000.000 đồng.
Ngoài giấy chuyển nhượng viết tay ngày 19-4-2010, cụ H còn ký kết với bà H bản hợp đồng chuyển nhượng ngày 20-5-2010 có chứng thực của UBND xa N. Cụ H̃ đa trả bà Nguyễn Thị H sỗ
́ tiền 290.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng trừ vào tiền pha ̣t co ̣c 20.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền chi phi dỡ nhà, xây tườ ng nên
́ việc thanh toán đã xong. Khi cu ̣ H trả bà H số tiền 290.000.000 đồng có lâ ̣p giấy biên nhâ ̣n nhưng sau khi cu ̣ H chết thi ông H đa đỗ ́t giấy này nên không còn chứ ng cứ
̀ chứ ng minh.
Ông H xác nhận cụ H đa kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhậ n quyền sữ
̉ dụng đất từ năm 2012 và sang tên cho ông năm 2013. Khi bà Lương Thi ̣ H có đơn ra Công an huyê ̣n Chương My giải quyết thì ông H có nhẫ
́t tri giải quyết theo hướng trả
́ bà H 53,5m2 đất vớ i điều kiê ̣n bà
H phải thanh toán cho ông H số tiền 54.500.000đồng và tiền lãi (tổng là 100.000.000 đồng) nhưng bà H chỉ trả lãi theo ngân hàng nên ông không đồng ý thực hiê ̣n theo phương án này nữa.
Ông H, bà P thống nhất ý kiến là không chấ p nhâ ̣n giao trả 53,5m2 đất chuyển nhượng cũng như trả số tiền 320.000.000 đồng theo yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lương Thị H.
4.3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H:
Trong giao di ̣ch chuyển nh ượng quyền sử du ̣ng đất theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” với ông H, bà P thì bà chỉ là người được ủy quyền để ký kết và giao tiền còn ngườ i nhâ ̣n chuyển nhượng là bà Lương Thi ̣ H. Bà H xác định chỉ ký kết giấy chuyển nhượng với ông H, bà P, không ký kết bản hợp đồng nào vớ i cụ H. Bà H khẳng định không có viê ̣c cụ H đa thanh toã
́n trả la ̣i cho bà số tiền 290.000.000 đồng và hủy bỏ hợp đồng như trình bày của ông H.
Bà Nguyễn Thị H thừa nhận việc giao kết “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” với ông H, bà P mà không có giấy ủy quyền của hộ cụ H là không đúng chủ sử dụng đất và không đúng quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng. Bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiê ̣n của bà Lương Thi ̣ H.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
5.1. Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5.2. Về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghi ̣ tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất ngày 19-4-2010” bị vô hiệu do trái pháp luật.
- Buô ̣c vợ chồng ông Tri ̣nh Duy H, bà Phạm Thị P trả cho bà Lương Thị H số tiền 320.000.000 đồng đa nhâ ̣̃
n.
- Về án phi : Ông H, bà P phải chịu án phí dân sự đối vớ i số tiền phải thanh
́ toán.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
1. Về tố tu ̣ng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hê ̣ pháp luâ ̣t xá c định trong vu ̣ án là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quy ền theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 3 Điều 26 và Điều 35, 39 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự.
2. Nô ̣i dung vu ̣ á n:
[1] Xét về hình thức hợp đồng chuyển nhượng đất: Thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P với bên nhận chuyển nhượng là bà Lương Thị H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp ký kết ngày 19-4-2010 dướ i hinh thứ c “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ” không
̀ có công chứng hoặc chứng thực, chưa được đăng ký chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Ông Tri ̣nh Duy H cho rằng ngoài “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 19-4-2010 ”, các bên c òn ký kết bản hợp đồng chuyển nhượng có chứng thực của UBND xa N nhưng kết quả xác minh tạĩ UBND xa N không có bản hợp đồng nào được chứng thực như ông H trình bày.̃
Quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất có hiệu lực ta ̣i thờ i điểm các bên giao kết (năm 2010) như sau: Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng..., phải đăng ký thì phải tuân theo các quy định đó”. Điều 127 Luâ ̣t đất đai năm 2003 quy đi ̣nh: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứ ng nhà nướ c ; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nH thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứ ng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất”. Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.... có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất”.
Đủ căn cứ kết luận giao di ̣ch chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ký kết ngày 19-4-2010 là không đúng quy định về hình thức và chưa có hiệu lực pháp luật . Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được công nhâ ̣n hiệu lực của “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngà y 19-4-2010” là không phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét về nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất: Đối tượng chuyển nhượng theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19-4-2010” và “Biên bản xác nhận kích thước thửa đất ngày 04-5-2010” là phần đất 53,5 m2 thuộc thửa đất 150 m2 có nguồn gốc của hộ cụ Trịnh Duy H (bố ông H) được giao theo Quyết định số 835/QĐ/UBND ngày 30-12-2002 của UBND huyện C. Tại thời điểm được giao đất (năm 2003), hộ cụ Trịnh Duy H có 05 thành viên là vợ cH cụ Trịnh Duy H, cụ Nguyễn Thị Mỵ cùng các con Trịnh Duy Dân, Trịnh Duy Hướng, Nguyễn Thị H. Tại thời điểm chuyển nhượng năm 2010 thì hộ cụ Trịnh Duy H vẫn là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất.
Tuy nhiên, ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P không phải là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất, không có ủy quyền bằng văn bản của hộ cụ Trịnh Duy H nhưng vẫn đứng ra chuyển nhượng 53,5m2 đất cho bà Lương Thị H và nhận số tiền chuyển nhượng 320.000.000 đồng là trái pháp luật. Đủ căn cứ tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất xác lập theo “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19-4-2010” giữa ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P với bà Lương Thị H do bà Nguyễn Thị H ký thay bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 128, 410 Bộ luật dân sự năm 2005.
[3] Về hậu quả hợp đồng vô hiệu: Tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
Trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất được xác định bị vô hiệu thì bà Lương Thị H đã giao cho người nhận ủy quyền là bà Nguyễn Thị H thanh toán cho vợ cH ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P tổng số tiền 320.000.000 đồng; ông H, bà P đa kỹ ́ nhâ ̣n và kê khai có nhận của bà Nguyễn Thị H số tiền 320.000.000 đồng.
Theo ông H, bà P trình bày ngày 04-6-2010 cụ H đã trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 290.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng trừ vào tiền phạt cọc và tiền tháo dỡ công trình trên đất nên viê ̣c thanh toán đa xong nhưng không cung cẫ
́p được chứ ng cứ để chứ ng minh . Kết quả thu thâ ̣p chứ ng cứ thể hiê ̣n : Ông Trịnh Duy H đa khaĩ nhận: “Số tiền 320.000.000 đồng đến nay tôi vẫn chưa trả cho chị H” (lời khai ngày 07-6-2017 tại Công an huyện Chương Mỹ); tại phiên tòa ông H thừ a nhận ông đa nhẫ
́t trí giao trả bà H 53,5m2 đất vớ i điều kiê ̣n phải thanh toán trả ông 100.000.000 đồng (gồm 54.500.000 đồng và tiền lai). Theo đõ
́, trình bày của ông H, bà P về viê ̣c đa trã ̉ lại tiền chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và thanh toán xong là không có căn cứ.
Trên cơ sở đó, buộc ông Trịnh Duy H và bà Phạm Thị P là những người đã trực tiếp nhận tiền trong giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất vô hiệu phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả số tiền 320.000.000 đồng đã nhận cho bà Lương Thị H; PH chia nghĩa vụ mỗi người phải trả bà Lương Thị H số tiền 160.000.000 đồng.
Trong giao di ̣ch chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất vô hiê ̣u thì hậu quả thiệt hại được xác đi ̣nh là giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch tăng thêm giữa thờ i điểm xác lâ ̣p giao di ̣ch vớ i thờ i điểm tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, kết quả định giá về giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm hiện tại (4.000.000 đồng/m2) là thấp hơn giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch (7.000.000 đồng/m2) nên ngoài việc giải quyết hậu quả giao di ̣ch vô hiê ̣u buô ̣c ông H, bà P hoàn trả lại tiền đã nhận thì bà Lương Thị H không bị thiệt hại từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự không giá ngạch đối với yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất không được chấp nhâ ̣n;
Bị đơn ông H, bà P phải chịu án phí dân sự đối với nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ y ban Thương vu ̣ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
̀
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 124, 128, 410 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 Chính phủ hướ ng dẫn thi hành Luâ ̣t đất đai năm 2003.
Căn cứ Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hô ̣i.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Lương Thị H
2. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập dưới hình thức “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 19-4-2010” giữa bên chuyển nhượng là ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P với bên nhâ ̣n chuyển nhượng là bà Lương Thị H (do bà Nguyễn Thị H ký thay) bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
3. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P phải liên đới hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 320.000.000 đồng; PH chia nghĩa vụ mỗi người phải hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 160.000.000 đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật , kể từ ngày ngườ i được thi hành án có yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo mứ c lai suẫ
́t 10%/năm tương ứ ng vớ i thờ i gian châ ̣m thực hiê ̣n nghia vu ̣̃
trả tiền theo quy đi ̣nh của Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Bà Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự; đối trừ số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C (theo biên lai số 3027 ngày 17-10-2017), hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 7.200.000 đồng tạm ứng án phí.
- Ông Trịnh Duy H, bà Phạm Thị P mỗi người phải nộp 8.000.000 đồng án phí dân sự.
5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm; các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND TP.H; - VKSND H.C (02 bản); - Chi cục THADS H.C; - UBND xa Ngọc Hòa;̃ - Lưu HSVA – VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Trƣờng |