- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp Quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Khoả n 3 Điề u 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luậ t tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 127 Luật Đất đai
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/DS-ST Ngày:17- 5- 2018 V/v: “Tranh chấ p hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễ n Ngọ c Quý
2. ÔngTrầ n Văn Huề
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắ c Hù ng -Thư ký Toà án huyện Chương Mỹ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễ n Thị Mai - Kiểm sát viên
Ngày 17-5-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 38/2017/TLST-DS ngày 18-10-2017 về “Tranh chấ p hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng đấ t” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-DS ngày 26-4-2018 giữ a các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lƣơng Thị H, sinh năm 1963
Cư trú tạ i đị a chỉ : Số nhà 167, tổ 37, phườ ng T, quậ n C, Thành phố Hà Nội , có mặ t.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Trịnh Duy H1, sinh năm 1966, có mặt.
2.2. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1973 (vợ ông H1), có mặ t.
Đề u cư trú tại đị a chi: Thôn C̉
, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội.
3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễ n Thị H2, sinh năm 1970, có mặt.
Cư trú tại đị a chỉ: Thôn C, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội, có mặt
NỘ I DUNG VỤ Á N:
1. Trong đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tại các bản khai, nguyên đơn là bà Lương Thị H trình bày:
Ngày 19-4-2010, bà Lƣơng Thị H có ủy quyền cho bà Nguyễ n Thị H2 trự c tiế p thoả thuận ký kết “Giấ y chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với vợ chồng ông Trịnh Duy H1 và bà Phạm Thị P. Nộ i dung thỏa thuận chuyển nhượng phần đấ t ở diệ n tích khoảng 50m2 vớ i giá chuyể n nhượ ng là 7.000.000 đồ ng/m2, tổ ng giá trị là 374.500.000 đồ ng, tiề n đặ t cọ c khi giao kế t là 20.000.000 đồ ng, khi có xác nhận của UBND xã thì thanh toá n tiế p 280.000.000 đồ ng, khi có giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất (tứ c bì a đỏ ) thì thanh toán nố t số tiề n cò n lạ i.
Khi ký kết “Giấ y chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”, bà H đã đưa 20.000.000 đồ ng tiề n cọ c cho ông H1, bà P. Ngày 04-5-2010 hai bên đã lậ p “Biên bả n xá c nhậ n kích thước thửa đất ” xác định phần đấ t chuyể n nhượ ng là 53,5m2 có xác nhận của cán bộ địa chính và Chủ tịch UBND xã N. Đế n ngày 10-5-2010, bà H thanh toán cho ông H1, bà P số tiền 280.000.000đồ ng; Ngày 17-5-2010 bà Hồng thanh toá n cho ông H1, bà P số tiề n 20.000.000đồ ng. Tổ ng số tiền bà H đã thanh toán cho ông H1, bà P là 320.000.000 đồ ng; còn lại 54.500.000đồ ng chờ làm thủ tục tách bìa đỏ xong sẽ thanh toá n nố t. Từ năm 2012 đến năm 2017, bà H đã kê khai và nộ p thuế cho UBND xã N đố i vớ i diệ n tí ch đất nhận chuyển nhượng 53,5m2.
Tuy nhiên, trên thực tế thì ông H1, bà P vẫn chiếm giữ không bàn giao phần đất chuyể n nhượ ng 53,5m2 nên bà H đề nghị UBND xã N giải quyết. Khi giải quyết tại UBND xã N thì bà mới biết phầ n đấ t nhận chuyển nhượng 53,5m2 thuộ c thử a đấ t giãn dân 150m2 đã đượ c UBND huyệ n Chương Mỹ cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất cho ông Trị nh Duy H 1 từ năm 2013 nhưng ông H1 không là m thủ tụ c tá ch thử a sang tên cho bà .
Nguyên đơn bà Lương Thị H khở i kiệ n yêu cầ u đượ c công nhậ n hi ệu lực của “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19/4/2010” và buộ c ông Trị nh Duy H1, bà Phạm Thị P phải giao và làm thủ tục tách thửa 53,5m2 đấ t chuyể n nhượ ng cho bà Lương Thị H theo đú ng cam kế t chuyể n nhượ ng . Nếu hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng không đượ c phá p luậ t công nhậ n hiệ u lự c thì ông H 1, bà P phả i hoà n trả số tiề n 320.000.000đồ ng đã nhậ n và bồi thường thiệt hại theo quy đị nh phá p luậ t.
2. Bị đơn - Ông Trịnh Duy H1 xác nhận và trình bày:
Năm 2002, UBND huyện Chương Mỹ xét duyệt cho hộ cụ Trịnh Duy H3 (bố đẻ ông H1) 150m2 đất giãn dân nhưng đến năm 2006 mới được giao đất.
Năm 2010, cụ H3 có ủy quyền miệng cho vợ chồ ng ông Trị nh Duy H1, bà Phạ m Thị P chuyể n nhượ ng mộ t phầ n đất thuộc thử a đấ t trên cho bà Lương Thị H ở phườ ng T, quậ n C, Thành phố Hà Nội. Theo giấy chuyển nhượng ký kết ngày 19-4-2010 thỏa thuậ n chuyể n nhượ ng khoả ng 50m2 đấ t, giá chuyển nhượng là 7.000.000 đồ ng/m2. Về phần thanh toán được thỏa thuận đặ t cọ c 20.000.000 đồ ng, sau khi lậ p giấ y tờ có xác nhậ n củ a xã N phải thanh toán 280.000.000 đồ ng, ngày 17-5-2010 trả tiếp 20.000.000 đồ ng, đến ngày 10-6-2010 trả số tiền còn lại sẽ bàn giao đất cho bà H đượ c phé p xây dự ng.
Đến ngày 04-5-2010, ông H1 cùng bà H và anh Trịnh Duy T (là ngườ i môi giớ i, đã chế t năm 2013) ra UBND xã N xác định phần đất chuyể n nhượ ng là 53,5m2. Bà H đã thanh toán tiền cho ông H1, bà P số tiền 320.000.000 đồ ng, còn lại chưa thanh toán 54.500.000 đồ ng.
Ông H1 trình bày ngoài giấy chuyển nhượng viết tay ngày 19-4-2010, hai bên còn ký kết bản hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng đất ngày 20-5-2010 đượ c UBND xã N chứng thực. Đến ngày 04-6-2010 do bên mua muốn lấy lại tiền nên cụ Trịnh Duy H3 (bố đẻ ông H1) đã trả lại cho bà H số tiề n 290.000.000 đồ ng, còn lại 30.000.000 đồ ng đượ c trừ và o tiề n phạt cọc và tiề n tháo dỡ công trình trên đấ t chuyể n nhượ ng . Khi hoàn trả tiền thì cụ H3 đã thu lạ i Hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng ngà y 20-5-2010 có chứng thự c củ a xã N.
Ông H1 cho rằ ng việ c chuyể n nhượ ng đấ t đã đượ c cá c bên thỏ a thuậ n hủ y bỏ, cụ H3 đã trả lại tiề n nên đã giả i quyế t xong. Nay ông mớ i biế t ngườ i trự c tiế p mua đấ t là bà Nguyễn Thị H2 không phả i bà Lương Thị H có tên trên giấy chuyển nhượng. Ông H1 không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a bà Lương Thị H và đề nghị Tòa án giải quyế t đú ng theo quy đị nh phá p luậ t.
3. Ngườ i có quyề n lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Do biế t gia đì nh ông Trị nh Duy H 1, bà Phạm Thị P cần bán đất giãn dân đ ể trả nợ nên bà giớ i thiệ u cho bà Lương Thị H mua đấ t. Bà Lương Thị H nhất trí mua nên đã ủy quyền cho bà trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng , thanh toá n tiền và là m cá c thủ tục chuyển nhượng khác . Bà Nguyễn Thị H2 xác nhận đã ký thay tên bà Lương Thị H trên “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” và ký nhận các lần giao tiền với vợ chồng ông H1, bà P. Tổ ng số tiề n bà đã đưa cho ông H1, bà P là 320.000.000đồ ng, còn lại 54.500.000đồ ng chưa thanh toán do chờ là m thủ tụ c tá ch bìa đỏ xong sẽ thanh toá n theo thỏa thuận.
Bà H khẳ ng đị nh chỉ thỏa thuận mua bá n đấ t vớ i vợ chồ ng ông H 1, bà P theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” và “Biên bả n xá c nhậ n kích thước thửa đất ngày 04-5-2010”, ngoài ra không có bản hợ p đồ ng nào khác, việ c cụ H3 trả lại cho bà số ti ền 290.000.000 đồ ng và hủy bỏ hợp đồng như trì nh bà y củ a ông H1 là không đúng , yêu cầ u ông H 1 phải có chứng cứ chứng minh . Bà Nguyễ n Thị H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị H.
4. Ý kiến trình bày của các đương sự tạ i phiên tò a:
4.1. Ý kiến củ a Nguyên đơn: Trước khi khởi kiện thì bà Lương Thị H có đơn đề nghị Công an huyện giải quyết, ông H1 đã khai nhận chưa trả cho bà số tiền 320.000.000 đồng nhưng nay lại khai cụ H3 đã trả lại 290.000.000 đồng là không đú ng. Khi giải quyết tại Công an huyện, ông H1 nhất trí giao trả cho bà 53,5m2 đất nhưng đòi bà phải thanh toán 100.000.000 đồng (gồm 54.500.000 đồng chưa thanh toán và tiền lãi ngày) nhưng bà chỉ nhất trí trả 54.500.000 đồng và tiền lãi ngân hàng nên các bên không thống nhất được hướng giải quyết.
Bà Lương Thị H vẫ n giữ nguyê n yêu cầ u đượ c công nhậ n hi ệu lực của “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” và “Biên bả n xá c nhậ n kí ch thướ c thử a đấ t ngày 04-5-2010”, buộ c ông Trị nh Duy H 1, bà Phạm Thị P giao trả 53,5m2 đấ t theo đú ng cam kế t.
Tuy nhiên, bà Lương Thị H thừa nhận việc giao kết chuyể n nhượ ng với ông H1, bà P là không đúng chủ sử dụng đất do giấy tờ đất đứng tên hộ cụ Trịnh Duy H3, nếu hợ p đồ ng không đượ c phá p luậ t công nhậ n hiệ u lự c thì buộ c ông Trị nh Duy H 1, bà Phạm Thị P phải hoàn trả cho bà số tiề n 320.000.000 đồ ng đã nhậ n và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
4.2. Ý kiến củ a bị đơn ông Trị nh Duy H1, bà Phạm Thị P:
Tại phiên tòa ông H1, bà P thố ng nhấ t trình bày: Cụ Trịnh Duy H 3 ủy quyền miệ ng cho ông H 1, bà P ký kết “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” chuyể n nhượ ng 53,5m2 đấ t cho bà Lương Thị H nhưng thự c tế lại là bà Nguyễ n Thị H2; ông H1, bà P xác nhận đã nhậ n tiề n chuyể n nhượ ng đấ t của bà H là 320.000.000 đồ ng.
Ngoài giấy chuyể n nhượ ng viế t tay ngày 19-4-2010, cụ H3 còn ký kết với bà H bản hợp đồng chuyển nhượ ng ngà y 20-5-2010 có chứng thực của UBND xã N . Cụ H3 đã trả bà Nguyễn Thị H 2 số tiề n 290.000.000 đồ ng, còn lại 30.000.000 đồ ng trừ vào tiề n phạ t cọ c 20.000.000 đồ ng và 10.000.000 đồ ng tiề n chi phí dỡ nhà , xây tườ ng nên việc thanh toán đã xong. Khi cụ H3 trả bà H số tiền 290.000.000 đồ ng có lậ p giấ y biên nhậ n nhưng sau khi cụ H3 chế t thì ông H1 đã đố t giấ y nà y nên không cò n chứ ng cứ chứ ng minh.
Ông H1 xác nhận cụ H3 đã kê khai làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyề n sử dụng đất từ năm 2012 và sang tên cho ông năm 2013. Khi bà Lương Thị H có đơn ra Công an huyệ n Chương Mỹ giải quyết thì ông H1 có nhấ t trí giải quyết theo hướng trả bà H 53,5m2 đấ t vớ i điề u kiệ n bà H phải thanh toán cho ông H1 số tiề n 54.500.000đồ ng và tiền lãi (tổ ng là 100.000.000 đồ ng) nhưng bà H chỉ trả lãi theo ngân hà ng nên ông không đồng ý thự c hiệ n theo phương á n nà y nữ a.
Ông H1, bà P thống nhất ý kiến là không chấ p nhậ n giao trả 53,5m2 đấ t chuyể n nhượ ng cũng như trả số tiề n 320.000.000 đồng theo yêu cầ u khở i kiệ n của bà Lương Thị H.
4.3. Ý kiến củ a ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2:
Trong giao dị ch chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” với ông H1, bà P thì bà chỉ là người đượ c ủy quyề n để ký kế t và giao tiền còn ngườ i nhậ n chuyể n nhượ ng là bà Lương Thị H. Bà H xác định chỉ ký kết giấy chuyển nhượng với ông H1, bà P, không ký kế t bả n hợ p đồ ng nào vớ i cụ H3. Bà H khẳng định không có việ c cụ H3 đã thanh toá n trả lạ i cho bà số tiề n 290.000.000 đồ ng và hủy bỏ hợp đồng như trì nh bà y củ a ông H1.
Bà Nguyễn Thị H2 thừa nhận việc giao kết “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụng đất ngày 19-4-2010” với ông H1, bà P mà không có giấy ủy quyền của hộ cụ H3 là không đúng chủ sử dụng đất và không đúng quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng. Bà Nguyễn Thị H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khở i kiệ n củ a bà Lương Thị H.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
5.1. Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5.2. Về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị tuyên bố hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” bị vô hiệu do trái pháp luật.
- Buộ c vợ chồ ng ông Trị nh Duy H1, bà Phạm Thị P trả cho bà Lương Thị H số tiề n 320.000.000 đồ ng đã nhậ n.
- Về á n phí : Ông H1, bà P phải chịu án phí dân sự đố i vớ i số tiề n phả i thanh toán.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
1. Về tố tụ ng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hệ pháp luậ t xá c định trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất”, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quy ền theo quy định tại Khoản 3 Điề u 26 và Điều 35, 39 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự .
2. Nộ i dung vụ á n:
[1] Xét về hình thức hợp đồng chuyển nhượng đất: Thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P với bên nhận chuyển nhượng là bà Lương Thị H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H2 trực tiếp ký kết ngà y 19-4-2010 dướ i hì nh thứ c “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ” không có công chứng hoặc chứng thực, chưa được đăng ký chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện Chương Mỹ. Ông Trị nh Duy H 1 cho rằng ngoài “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ký kết ngày 19-4-2010 ”, các bên còn ký kết bản hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng có chứng thực của UBND xã N nhưng kế t quả xác minh tại UBND xã N không có bản hợp đồng nào được chứng thực như ông H1 trình bày.
Quy đị nh củ a phá p luậ t về hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t có hiệu lự c tạ i thờ i điể m cá c bên giao kế t (năm 2010) như sau: Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng..., phải đăng ký thì phải tuân theo các quy định đó”. Điề u 127 Luậ t đấ t đai năm 2003 quy đị nh: “Hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t phải có chứng nhận của công chứ ng nhà nướ c ; trường hợ p hợ p đồ ng chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t của hộ gia đình , cá nhân t hì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực
của UBND xã , phườ ng, thị trấn nơi có đất”. Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất.... có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất”.
Đủ căn cứ kết luận giao dị ch chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t” ký kết ngày 19-4-2010 là không đú ng quy định về hình thức và chưa có hiệu lực pháp luật . Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị đượ c công nhậ n hiệu lực của “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngà y 19-4-2010” là không phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét về nội dung hợp đồng chuyển nhượng đất: Đối tượng chuyển nhượng theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngày 19-4-2010” và “Biên bản xác nhận kích thước thửa đất ngày 04-5-2010” là phần đất 53,5 m2 thuộc thửa đất 150 m2 có nguồn gốc của hộ cụ Trịnh Duy H3 (bố ông H1) đượ c giao theo Quyết định số 835/QĐ/UBND ngày 30-12-2002 của UBND huyện Chương Mỹ. Tại thời điểm được giao đất (năm 2003), hộ cụ Trịnh Duy H3 có 05 thành viên là vợ chồng cụ Trịnh Duy H3, cụ Nguyễn Thị M cùng các con Trịnh Duy D, Trịnh Duy H4, Nguyễn Thị H2. Tại thời điểm chuyển nhượng năm 2010 thì hộ cụ Trịnh Duy H3 vẫn là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất.
Tuy nhiên, ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P không phải là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất, không có ủy quyền bằng văn bản của hộ cụ Trịnh Duy H3 nhưng vẫn đứng ra chuyển nhượng 53,5m2 đất cho bà Lương Thị H và nhận số tiền chuyển nhượng 320.000.000 đồng là trái pháp luật. Đủ căn cứ tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất xác lập theo “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ngày 19-4-2010” giữa ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P với bà Lương Thị H do bà Nguyễn Thị H2 ký thay bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 128, 410 Bộ luật dân sự năm 2005.
[3] Về hậu quả hợp đồng vô hiệu: Tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
Trong giao dịch chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất được xác định bị vô hiệu thì bà Lương Thị H đã giao cho người nhận ủy quyền là bà Nguyễn Thị H2 thanh toán cho vợ chồng ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P tổng số tiền 320.000.000 đồng; ông H1, bà P đã ký nhận và kê khai có nhận của bà Nguyễn Thị H 2 số tiề n 320.000.000 đồ ng.
Theo ông H1, bà P trình bày ngày 04-6-2010 cụ H3 đã trả cho bà Nguyễn Thị H2 số tiền 290.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng trừ vào tiền phạt cọc và tiền tháo dỡ công trình trên đất nên việ c thanh toán đã xong nhưng không cung cấ p đượ c chứ ng cứ để chứ ng minh . Kế t quả thu thậ p chứ ng cứ thể hiệ n : Ông Trịnh Duy H1 đã khai nhận: “Số tiền 320.000.000 đồng đến nay tôi vẫn chưa trả cho chị H” (lời khai ngày 07-6-2017 tại Công an huyện Chương Mỹ ); tại phiên tòa ông H1 thừ a nhận ông đã nhấ t trí giao trả bà H 53,5m2 đấ t vớ i điề u kiệ n phải thanh toán trả ông 100.000.000 đồ ng (gồ m 54.500.000 đồ ng và tiề n lã i). Theo đó , trình bày của ông H1, bà P về việc đã trả lại tiề n chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t và thanh toá n xong là không có căn cứ .
Trên cơ sở đó, buộc ông Trịnh Duy H1 và bà Phạm Thị P là những người đã trực tiếp nhận tiền trong giao dịch dân sự chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t vô hiệu phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả số tiền 320.000.000 đồng đã nhận cho bà Lương Thị H; Phân chia nghĩa vụ mỗi người phải trả bà Lương Thị H số tiền 160.000.000 đồng.
Trong giao dị ch chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t vô hiệ u thì hậu quả thiệt hại đượ c xá c đị nh là giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch tăng thêm giữ a thờ i điể m xác lậ p giao dị ch vớ i thờ i điể m tuyên bố hợ p đồ ng vô hiệ u. Tuy nhiên, kết quả định giá về giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm hiện tại (4.000.000 đồ ng/m2) là thấp hơn giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch (7.000.000 đồ ng/m2) nên ngoài việc giải quyết hậu quả giao dị ch vô hiệ u buộ c ông H1, bà P hoàn trả lại tiền đã nhận thì bà Lương Thị H không bị thiệt hại từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự không giá ngạch đối với yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyề n sử dụ ng đất không được chấp nhậ n;
Bị đơn ông H1, bà P phải chịu án phí dân sự đối với nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyế t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ y ban Thườ ng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoả n 3 Điề u 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luậ t tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 124, 128, 410 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 Chính phủ hướ ng dẫ n thi hà nh Luậ t đấ t đai năm 2003.
Căn cứ Khoản 3 Điề u 27 Nghị quyế t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quố c hộ i.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Lương Thị H
2. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập dưới hình thức “Giấ y chuyể n nhượ ng quyề n sử dụ ng đấ t ký kết ngày 19-4-2010” giữa bên chuyể n nhượ ng là ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P với bên nhậ n chuyể n nhượ ng là bà Lương Thị H (do bà Nguyễn Thị H2 ký thay) bị vô hiệu do vi phạm điề u cấ m củ a pháp luật.
3. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P phải liên đới hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 320.000.000 đồng; Phân chia nghĩa vụ mỗi người phải hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 160.000.000 đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật , kể từ ngà y ngườ i đượ c thi hà nh á n có yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất trên số tiề n chậm trả theo mứ c lã i suấ t 10%/năm tương ứ ng vớ i thờ i gian chậ m thự c hiệ n nghĩ a vụ trả tiề n theo quy đị nh củ a Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Bà Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự; đối trừ số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ (theo biên lai số 3027 ngày 17-10-2017), hoàn trả bà Lương Thị H số tiền 7.200.000 đồng tạm ứng án phí.
- Ông Trịnh Duy H1, bà Phạm Thị P mỗi người phải nộp 8.000.000 đồ ng án phí dân sự.
5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm; các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND TP.Hà Nội; - VKSND H.Chương Mỹ (02 bản); - Chi cục THADS H.Chương Mỹ; - UBND xã N; - Lưu HSVA – VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Trƣờng |