vanban.org

Bản án 04/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 10/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Rơ Ô C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Phạt bị cáo Rơ Ô C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 17/6/2017. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Ô C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Rơ Ô C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự và yêu cầu
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2017/HSST
Ngày 10/11/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Đỗ Ngọc Diệp, nghề nghiệp: Giáo viên

Nơi công tác: Trường THCS Nguyễn Trung Trực, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

+ Bà Võ Hoàng Lan, nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: Hội liên hiệp Phụ nữ huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Ngọc Trung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Đăng Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Ia A, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2017/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Rơ Ô C, sinh năm: 1998, tại Phú Thiện, Gia Lai; trú tại Thôn Plei Măk, xã Ia A, huyện, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hoá: 8/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Siu K và bà Rơ Ô H’Y; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Thiện từ ngày 17/6/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Rơ Ô C: Bà Ngô Thị V – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người bị hại: Anh Phạm Cao K1, sinh ngày 08/8/2002

Trú tại: Thôn Thanh Liêm, xã Ayun H, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại Phạm Cao K1: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1979 (Là mẹ ruột Phạm Cao K1). Có mặt.

Trú tại: Thôn Thanh Liêm, xã Ayun H, huyện P, tỉnh Gia Lai.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. NLQ1, sinh năm 1999. Có mặt.

Trú tại: Thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

2. NLQ2, sinh năm 1999. Có mặt.

Trú tại: Thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

3. NLQ3, sinh năm 1999. Có mặt.

Trú tại: Thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai

4. NLQ4, sinh năm 2002. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho NLQ4: Ông Rơ Ô N – Cha ruột. Vắng mặt không lý do.

Cùng trú tại: Thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai

5. NLQ5, sinh năm 1999. Vắng mặt không lý do.

Trú tại: Tổ dân phố 18, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

6. NLQ6, sinh năm 1998. Vắng mặt không lý do.

Trú tại: Thôn Thanh Liêm, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Ksor H’ Đuen – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/4/2017, NLQ1 rủ Rơ Ô C, NLQ2, NLQ4, NLQ3 và Rmah C1 (Trú cùng thôn Plei Măk, xã Ia A, huyện P, tỉnh Gia Lai) đến thôn Thanh Liêm, xã Ayun H, huyện P để cắt tóc. Khi đến nơi, NLQ2 vào tiệm để cắt tóc, NLQ1, C, NLQ4, Tư đứng ở ngoài, còn C1 đi sửa xe. Tại đây, NLQ1 thấy Phạm Cao K1 đi cùng NLQ6 (Cùng trú tại Thôn Thanh Liêm, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện ) vào 01 tiệm tạp hóa gần đấy mua nước uống. NLQ1 kể lại chuyện mình bị K1 chặn đường đánh lúc trước cho C nghe với mục đích để C đánh lại K1 trả thù cho NLQ1. Cùng lúc này khi thấy nhóm của NLQ1, K1 lên tiếng chửi và thách thức nhóm của NLQ1. Nghe vậy, C chạy đến chỗ của K1 dùng tay phải đấm một cái trúng vào mặt K1. Thấy K1 bị đánh, NLQ6 liền vào quán tạp hóa lấy 01 cây dao cạo mía ra hù dọa, C thấy vậy cũng chạy về nơi dựng xe của mình lấy 01 con dao (đặc điểm con dao có cán bằng tre dài khoảng 20cm, lưỡi dao dài khoảng 50cm, bản rộng khoảng 4cm, mũi dao cong) rồi quay lại chỗ K1. Đến nơi, C cầm dao chém K1 01 phát từ trên xuống dưới, K1 liền dùng tay trái cầm 01 chiếc ghế gỗ đưa lên đỡ thì bị dao của C chém trúng ngón IV bàn tay trái. Lúc này, nhiều người dân kéo đến xem và khuyên can nên nhóm của C điều khiển xe về thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện, C1 điều khiển xe về nhà.

Bức xúc trước việc bị C chém, K1 nói NLQ6 chở mình về nhà để lấy 01 con dao thái lan đồng thời gọi điện thoại rủ Trần Hữu B (Trú tại thôn Plei Kram, xã Ia Y, huyện P) và NLQ5 (Trú tại tổ dân phố 18, thị trấn P, huyện P) đi tìm nhóm của C để đánh trả thù. Cả bọn đồng ý. Khi đến thôn Plei Măk, xã Ia A, nhóm của K1 gặp C, NLQ1, NLQ4, Tư và NLQ2 đang đứng trước trường mẫu giáo để nói chuyện. Lúc này, C vẫn cầm trên tay con dao đã chém K1 trước đó. Thấy nhóm của K1 đến NLQ1, NLQ4, Tư và NLQ2 đi nhặt cây để phòng thủ. Thấy K1 xông vào đòi đánh, NLQ1, NLQ4, Tư và NLQ2 ném cây về phía nhóm của K1 nhưng không trúng ai. Cùng lúc, K1 cầm dao mang theo chạy đến đâm vào người C nhưng C tránh được, đồng thời C cầm dao của mình chém 01 phát theo chiều hướng từ trên xuống dưới trúng vào trán phải của K1 gây thương tích. Hậu quả, K1 bị thương tích được đưa đi cấp cứu và phải điều trị tại Bệnh viện Quân y 211, đến ngày 25/4/2017 thì xuất viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 136/TgT-TTPY ngày 06/6/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận tổn thương cơ thể đối với Phạm Cao K1:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Một sẹo vết thương phần mềm trán đỉnh phải kích thước 9,5cm x 0,2cm, sẹo liền, ảnh hưởng thẩm mỹ: 11% (M IV.1 – T63).

- Tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải đã điều trị không để lại di chứng: 21% (M III.6 – T12).

- Nứt sọ vùng đỉnh trái bên phải khoảng 5cm, điện não bình thường: 11% (M I.2.2 – T11).

- Một sẹo vết thương phần mềm mặt lưng đốt 1, 2 ngón IV bàn tay trái kích thước 3 x 0,5cm, sẹo liền: 1% (M I.1 – T63).

- Cứng khớp liên đốt 1, 2 ngón IV bàn tay trái: 1% (M 5.4.2 – T51).

2. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 39 % (Ba mươi chín phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng lùi theo Thông tư 20/2014/TT-BYT của Bộ Y tế.

Quá trình điều tra, NLQ1 và Rơ Ô C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai phù hợp lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được.

Căn cứ kết quả giám định, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, xét thấy hành vi của NLQ1 và Rơ Ô C cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điều 104 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với NLQ1, Rơ Ô C về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, ngày 29/7/2017, người bị hại Phạm Cao K1 và người đại diện hợp pháp đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị can NLQ1, Rơ Ô C. Xét thấy, vụ án trên xảy ra ở 02 giai đoạn độc lập. Bị can NLQ1 chỉ thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm là người xúi giục ở giai đoạn đầu. NLQ1 là người đã kích động, thúc đẩy Rơ Ô C đã dùng dao chém trúng ngón IV bàn tay trái của Phạm Cao K1 tại Thôn Thanh Liêm, xã Ayun Hạ, huyện Phú Thiện. Tỷ lệ thương tích mà NLQ1 và Rơ Ô C gây ra cho Phạm Cao K1 ở giai đoạn đầu là 2%. Căn cứ khoản 2 Điều 105; Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự và yêu cầu của người bị hại, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với NLQ1. Trong giai đoạn hai, Rơ Ô C đã dùng dao chém trúng vào vùng trán phải của Phạm Cao K1 tại Thôn Plei Măk, xã Ia A, huyện P. Tại Công văn số 51/CV-TTPY ngày 15/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, xác định tổng tỷ lệ phần trăm cơ thể vết thương vùng trán phải của Phạm Cao K1 là 37% trong tổng tỷ lệ thương tích 39% nên không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Đối với NLQ6, NLQ5 và Trần Hữu B khi được Phạm Cao K1 rủ đi tìm nhóm của C đánh trả thù thì đồng ý ngay. Tuy nhiên, hành vi của các đối tượng trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Đối với NLQ2, NLQ4 và NLQ3, khi thấy nhóm của Phạm Cao K1 mang dao tiến về phía mình để đánh, cả bọn đã chủ động đi tìm cây củi ném về phía nhóm của K1 nhưng không gây thương tích nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

* Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra xác định Rơ Ô C đã dùng 01 con dao có đặc điểm cán dao bằng le dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng sắt dài khoảng 50cm bản rộng khoảng 4cm, mũi dao cong để gây thương tích cho Phạm Cao K1. Tuy nhiên sau khi gây án, C đã ném trên đường đi về, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả.

* Về dân sự:

Quá trình điều tra, Phạm Cao K1 và người đại diện hợp pháp có yêu cầu bồi thường số tiền 21.000.000 đồng. Rơ Ô C và Ramh NLQ1 đã cùng gia đình đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại Phạm Cao K1, hiện không còn yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 22/CTr-VKS, ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Rơ Ô C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các quy định có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng khoản 3 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Quan điểm bào chữa và đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Người bào chữa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo. Người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo khoảng 36 tháng tù là phù hợp.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận.

Bị cáo Rơ Ô C có xô xát đánh nhau với người bị hại Phạm Cao K1 trước đó tại thôn Thanh Liêm, xã Ayun H, huyện P, nên vào khoảng 14 giờ cùng ngày 23/4/2017, Phạm Cao K1 cầm 01 con dao thái lan cùng với NLQ6, Trần Hữu B và NLQ5 đến thôn Plei Măk, xã Ia Ake, huyện Phú Thiện để tìm nhóm của C đánh trả thù. Khi đến thôn Plei Măk, xã Ia Ake, nhóm của K1 gặp Rơ Ô C, NLQ1, NLQ2, NLQ4 và NLQ3. Thấy nhóm của K1 đến, NLQ1, NLQ4, Tư và NLQ2 đi nhặt cây để phòng thủ. Nhóm của K1 đã xông vào đòi đánh nhóm của C. NLQ1, NLQ4, Tư và NLQ2 đã ném cây về phía nhóm của K1 nhưng không trúng ai. Cùng lúc, K1 cầm con dao Thái lan (loại dao nhỏ dùng gọt trái cây) chạy đến đâm vào người C nhưng C tránh được. Trên tay C đang cầm con dao trước đó đã chém K1 tại thôn Thanh Liêm, xã Ayun Hạ nên C đã cầm dao của mình chém 01 phát theo chiều hướng từ trên xuống dưới trúng vào trán phải của K1 gây thương tích. Hậu quả, K1 bị thương tích được đưa đi cấp cứu và phải điều trị tại Bệnh viện Quân y 211. Đến ngày 25/4/2017 thì xuất viện. Các tình tiết khác của vụ án đúng như nội dung cáo trạng đã xác định.

Bị cáo biết rõ sức khỏe, tính mạng của con người là vốn quý, được pháp luật bảo vệ, việc xâm hại sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị. Giữa bị cáo và người bị hại đã có mâu thuẫn từ trước đó (cùng ngày) Bị cáo đã dùng dao chém người bị hại vào ngón tay gây thương tích tổn hại 2% sức khỏe. Bực tức về việc này, người bị hại đã mang theo con dao thái lan và rủ thêm bạn bè của mình tìm bị cáo để đánh trả thù. Khi gặp bị cáo, người bị người bị hại dùng dao tấn công bị cáo trước nhưng bị cáo tránh được. Bản thân bị cáo lúc này với ưu thế đông người hơn, đang cầm NLQ1 khí nguy hiểm hơn trên tay nhưng không có ý thức phòng vệ, tinh thần không thấy bực tức, kích động trước hành vi tấn công của người bị hại, mà sẵn sàng đánh trả người bị hại. Do vậy, mặc dù bị người bị hại tấn công trước, bị cáo đã tránh được nhưng ngay lập tức vẫn dùng dao chém người bị hại vào phần đầu theo tư thế chém từ trên xuống. Nhát chém đã trúng vào phần trán bên phải của bị hại, gây thương tích tổn hại sức khỏe 37%. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, gây tổn hại về sức khỏe và tinh thần của người bị hại, làm mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa cNLQ1.

Từ những tình tiết nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội“Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố đối bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ pháp luật.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành án đến ngày 29/3/2017 trở về địa phương, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích của bản án trước, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ trước được thực hiện khi bị cáo chưa đủ tuổi thành niên. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án trước không bị coi là có án tích nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng năng là “tái phạm” trong vụ án này. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động nhờ gia đình và cùng với người liên quan NLQ1 bồi thường cho người bị hại đủ số tiền 21 triệu đồng theo yêu cầu để người bị hại điều trị thương tích. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã biết “thành khẩn khai báo” và ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa, người bị hại Phạm Cao K1 thừa nhận có lỗi khi đã bực tức vì bị bị cáo gây thương tích trước đó nên đã chủ động rủ thêm người và cầm theo NLQ1 khí đi tìm bị cáo để đánh trả thù. Người bị hại đã dùng dao đâm bị cáo trước nhưng bị cáo tránh được. Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Mặc khác, bị cáo bị xử lý về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tại điều luật nói trên đã có sự sửa đổi theo hướng giảm nhẹ hơn (Quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị HĐXX vận dụng các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý theo hướng có lợi cho bị cáo trong vụ án này là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ của tội phạm và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội và làm tốt công tác răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ của tội phạm, mức độ lỗi của người bị hại trong vụ án, có thể áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của kNLQ1 hình phạt nhưng trong khung liền kề quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Cao K1 và người đại diện hợp pháp có yêu cầu bồi thường số tiền 21.000.000 đồng. Rơ Ô C và NLQ1 đã cùng gia đình bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại Phạm Cao K1, hiện không còn yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.

Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Thiện đình chỉ điều tra đối với NLQ1 và chuyển xử lý hành chính đối với NLQ1 là đúng pháp luật. Người bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại rút yêu cầu khởi tố đối với NLQ1 là hoàn toàn tự nguyện.

Đối với hành vi của NLQ6, NLQ5, NLQ2, NLQ4 và NLQ3, có việc xô xát nhưng chưa gây thương tích cho nhau. Cơ quan Công an đã xử lý hành chính đối với NLQ6 và NLQ5 là hợp lý.

Về án phí: Bị cáo Rơ Ô C phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Rơ Ô C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng khoản 3 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tuyên xử:

Phạt bị cáo Rơ Ô C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 17/6/2017.

2. Về án phí:

- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Áp dụng Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Rơ Ô C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ trích sao bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hánh án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ