vanban.org

Bản án 04/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kon Rẫy , tỉnh Kon Tum Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn T phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lữ Văn T 09 chín tháng tù, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến ngày 13/6/2017. Thời hạn tù tính từ ngày b t thi hành án. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lữ Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN KON RẪY
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2017/HS-ST.
Ngày: 15/9/2017.

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Chiến.

2/ Ông Lã Đức Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Hải – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Kon Rẫy tham gia phiên toà:

Ông Trần Quốc Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2017, tại Hội trường Nhà văn hóa xã Đ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 7/2017/HSST ngày 26/7/2017 đối với bị cáo:

Lữ Văn T; sinh ngày 12/6/1986 tại Kon Tum ; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn 1, xã T, huyện K, tỉnh Kon Tum; Trình độ văn hóa 10/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Lữ Văn H đã chết và bà Phạm Thị N, sinh năm 1953, hiện trú tại thôn 1, xã T, huyện K, tỉnh Kon Tum; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 3.

Bị cáo đang chung sống như vợ chồng với VNT người Lào , không có đăng ký kết hôn, có 02 con sinh năm 2008 và 2014, hiện trú tại T, K, Kon Tum.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến ngày 13/6/2017 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú , bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Phạm D, sinh năm 1984, hiện trú tại Thôn 9 xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo cáo trạng của VKSND huyện K, bị cáo Lữ Văn T bị truy tố với hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 28/1/2017, Lữ Văn T cùng với em trai là Lữ Văn T T em và VNT đi chúc tết, khi đến trước nhà ông Lương T tại thôn 9 xã Đ, huyện K thì T cùng T vào tham gia chơi bầu cua, với hình thức được thua bằng tiền. Tại đây, có Phạm D và Vi Thành T cùng chơi; trong quá trình chơi, giữa T em và D sảy ra mâu thuẫn thì T vào can ngăn; do đó giữa T và Cao Văn C và một số thanh niên khác ở thôn 3 xã T sảy ra mâu thuẫn, T đã bị C và một số đối tượng đuổi đánh, thấy vậy một số người ở xung quanh đến can ngăn, rồi T đi về nhà lấy 01 con dao dài khoảng 40 cm cán gỗ dài khoảng 15 cm, lưỡi dài khoảng 25cm rộng khoảng 10cm quay lại để tìm số thanh niên đã đánh mình, khi thấy T cầm dao đến phía đối diện nhà ông Lương T, thì số thanh niên bỏ chạy, chỉ còn lại mình D; vì nghĩ D chơi cùng những thanh niên đã đánh mình nên T đã cầm dao chém D theo hướng từ trên xuống, D dơ tay lên đỡ lên đã trúng vào tay trái của D, D đã xuống xe bỏ chạy, thấy T chém D nên Vi Thành T chạy đến đạp vào lưng T 01 cái làm T bị ngã rồi Vi Thành T bỏ chạy, T thấy các thanh niên đã đánh mình bỏ chạy nên đi về nhà, còn D được bạn đưa đi chữa trị.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 28/TgT-TTPY kết luận thương tích của D có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị: Áp dụng khoản 2 điều 134 BLHS 2015; điểm b,p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 47 BLHS 1999, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù, được trừ thời hạn tạm giam trước đây.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ kh¸c cã trong hồ sơ vụ án. Qua đó thể hiện:

Do có mâu thuẫn với Cao Văn C và một số đối tượng khác ở thôn 3 xã T , Lữ Văn T đã đã bị các đối tượng này đánh, sau đó T về nhà lấy dao quay lại đánh các đối tượng trên để trả thù; tuy nhiên khi trở lại địa điểm sảy ra sự việc trước nhà ông Lương T tại thôn 9 xã Đ, huyện K thì các đối tượng kia đã bỏ chạy, chỉ còn lại Phạm D đang ngồi trên xe mô tô, cho rằng D chơi cùng các đối tượng đã đánh mình, nên T đã đến và chém D 01 nhát, D dùng tay đỡ nên đã bị thương tại bàn tay với tỷ lệ thương tật là 13%, như vậy, việc VKSND huyện K truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích là hoàn toàn có cơ sở.

Thấy rằng, chỉ vì mâu thuẫn với những người khác mà bị cáo cho rằng là bạn của D nhưng bị cáo đã dùng dao là hung khí nghuy hiểm để chém D gây thương tích, hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm, thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật, ngay trong những ngày tết cổ truyền, tại nơi đông người nhưng bị cáo đã bất chấp mà xâm hại đến sức khỏe của người khác; gây mất an ninh trật tự, tạo dư luận không tốt tại địa phương, do vậy cần xử bị cáo một mức án nghiêm kh c để có tính giáo dục và răn đe chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS; mặt khác, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang phải nuôi hai con nhỏ, mẹ già và em trai tàn tật nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của phám luật mà cải tạo cho tốt.

Theo Nghị quyết 41/2017/QH14 của quốc hội về việc thi hành Bộ Luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì khung hình phạt khoản 2 điều 104 BLHS 1999 có hình phạt cao hơn khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 nên HĐXX áp dụng Điều 134 BLHS 2015 theo nguyên t c có lợi cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; do vậy HĐXX áp dụng điều 47 BLHS, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, đồng thời người bị hại không có yêu cầu gì, do đó HĐXX không xem xét.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án này, thấy bị cáo và một số đối tượng khác T, T, C… còn có hành vi tham gia đánh bạc nhưng chưa được xử lý, do vậy kiến nghị cơ quan Công an huyện xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Văn T phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự 1999.

Xử phạt bị cáo Lữ Văn T 09 chín tháng tù, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến ngày 13/6/2017. Thời hạn tù tính từ ngày b t thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án: bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ