vanban.org

Bản án 03 — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận: Yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” của anh Nguyễn Tiến Đ đối với chị Nguyễn Thị T là hợp lệ.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị T – Sinh ngày 19-7-1986; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G Mất tích. Chi phí đăng tin thông báo tìm người mất tích trên đài, báo trung ương anh Đ đã chi phí hết số tiền: 2.850.000đ. (anh Đ đã nộp đủ) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Tiến Đ - Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận: Yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” của anh Nguyễn Tiến Đ đối với chị Nguyễn Thị T là hợp lệ.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH G
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03./2018/QĐVDS-ST
Ngày 19-9-2018
(V/v Tuyên bố một người mất tích)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH G

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Lâm Anh Luyện – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh G mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2018/TLST-VDS ngày 16 tháng 3 năm 2018 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 1257/2018/QĐPH-VDS ngày 09 tháng 9 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Tiến Đ – Sinh ngày 11-2- 1983; Địa chỉ: Tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G.

2. Người có liên quan (Bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Chị Nguyễn Thị T – Sinh ngày 19-7-1986 (Vợ của anh Đ); Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G. Chị T đã bỏ đi biệt tích từ 03-3-2016 đến nay không có tin tức gì.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Trong đơn yêu cầu ngày 07-3-2018, cùng các tài liệu kèm theo đơn và tại phiên họp, người yêu cầu là anh Nguyễn Tiến Đ trình bày: Anh Đ và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 12 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh G. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 03 năm, tại tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G thì phát sinh mâu thuẫn. Đến ngày 03-3-2016, chị T đã tự ý bỏ nhà ra đi, không thông báo gì với anh Đ. Anh Đ đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như thông báo cho bạn bè, người thân và trình báo với Công an thị trấn V. Thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị T đã được đăng trên Báo Công lý ba số liên tiếp: Số 37 (1576) ngày 09-5-2018; Số 38 (1577) ngày 11-5-2018; Số 39 (1578) ngày 16-5-2018 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 50 phút – 18 giờ 00 phút các ngày 07, 08, 09-5-2018 nhưng đến nay không có thông tin gì về việc chị T hiện đang làm gì, ở đâu. Do vậy, anh Đ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T mất tích. Tại phiên họp, anh Nguyễn Tiến Đ vẫn giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh G tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Yêu cầu của anh Nguyễn Tiến Đ về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích là có căn cứ. Chị Nguyễn Thị T đã bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 03/3/2016 đến nay không có tin tức gì, mặc dù anh Đ đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm. Thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị T đã được đăng trên Báo Công lý ba số liên tiếp: Số 37 (1576) ngày 09-5-2018; Số 38 (1577) ngày 11-5-2018; Số 39 (1578) ngày 16-5-2018 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 50 phút – 18 giờ 00 phút các ngày 07, 08, 09-5-2018. Đến nay, đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng, nhưng vẫn không xác định được chị T hiện đang ở đâu, làm gì. Do vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đ về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh G nhận định:

Về tố tụng dân sự: Đơn yêu cầu của anh Nguyễn Tiến Đ về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích được Tòa án nhân dân huyện V thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dụng việc dân sự: Anh Nguyễn Tiến Đ và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 12 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh G. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 03 năm, tại tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G thì phát sinh mâu thuẫn. Đến ngày 03-3-2016, chị T đã tự ý bỏ nhà ra đi, không thông báo gì với anh Đ. Anh Đ đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như thông báo cho bạn bè, người thân và trình báo với Công an thị trấn V nhưng đến nay không có thông tin gì về việc chị T hiện đang làm gì, ở đâu. Ngày 16-3-2018, Tòa án nhân dân huyện V thụ lý đơn yêu cầu của anh Đ về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích. Ngày 19-3-2018, Tòa án nhân dân huyện V đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Nguyễn Thị T. Thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị T đã được đăng trên Báo Công lý ba số liên tiếp: Số 37 (1576) ngày 09-5-2018; Số 38 (1577) ngày 11-5-2018; Số 39 (1578) ngày 16-5-2018 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 50 phút – 18 giờ 00 phút các ngày 07, 08, 09-5-2018. Đến nay, đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chị T còn sống hay đã chết, Tòa án đã tiến hành xác minh hiện tại chị Tiếu không có mặt tại nơi cư trú. Do vậy, đã có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đ về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Tiến Đ phải chịu lệ phí án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Chi phí đăng tin thông báo tìm người mất tích trên đài, báo trung ương anh Đà đã chi phí hết số tiền: 2.850.000đ. Xét thấy đây là chi phí đăng tin người có yêu cầu phải chịu.

Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Tiến Đ được quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 371; Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự

Căn cứ Điều 389; Điều 371; Điều 372; Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

1. Chấp nhận: Yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” của anh Nguyễn Tiến Đ đối với chị Nguyễn Thị T là hợp lệ.

2. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị T – Sinh ngày 19-7-1986; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 10, thị trấn V, huyện V, tỉnh G Mất tích.

3. Chi phí đăng tin thông báo tìm người mất tích trên đài, báo trung ương anh Đ đã chi phí hết số tiền: 2.850.000đ. (anh Đ đã nộp đủ)

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Tiến Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh G là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 01794 ngày 12 tháng 3 năm 2018. (Anh Đ đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm).

5. Anh Nguyễn Tiến Đ có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ