- Tranh chấp gì? Tranh chấp về đại diện, đại lý — án kinh doanh thương mại — "KDTMPT Công ty CPHC MB - An Xuân T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 166 Luật Thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 03/2022/KDTMPT. Ngày: 25-4-2022 V/ v: Tranh chấp hợp đồng đại lý độc quyền. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Minh Lý
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Đào Trọng Nghĩa - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 04/2021/KDTMPT ngày 12 tháng 8 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng đại lý độc quyền” do b n án kinh doanh thương mại sơ thẩm s 04/2021/KDTM-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s 56/2021/QĐ-PT ngày 16 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB
Địa chỉ: S nhà 20/761, đường GP, phường GB, quận HM,Thành ph HN Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần: Đăng ký lần đầu ngày 10 tháng 4 năm 2015; đăng ký thay đổi lần thứ 2: ngày 27 tháng 4 năm 2017.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H i Y– chức vụ Tổng Giám đ c. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH Minh A
Địa chỉ: Tổ 14, khu HB, phường YN, Q. HĐ, TP. Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Đ – chức vụ Giám đ c và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông An Xuân T, sinh năm 1983. Có mặt.
Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1983. Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bà Y: Ông An Xuân T
Địa chỉ: Xóm 8, xã SC, thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên
3. Người kháng cáo: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB
là nguyên đơn và ông An Xuân T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo b n án sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/6/2019, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB và ông An Xuân T, bà Đỗ Thị Y đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng phân ph i độc quyền khu vực Hãng sơn Yen’n Color, theo đó: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB đồng ý cho ông T, bà Y lấy tên Nhà Phân ph i Ngọc A làm nhà Phân ph i độc quyền Khu vực các tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn về Dòng s n phẩm Sơn nước của Công ty.
Thực hiện đúng quy định của Hợp đồng, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB đã giao hàng theo đúng s lượng, chất lượng theo đơn đặt hàng của Nhà Phân ph i ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y. Nhà Phân ph i Ngọc A đại diện là ông An Xuân T đã ký xác nhận về việc nhận hàng và việc hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo đơn đặt hàng của Công ty (Thể hiện qua các Hóa đơn bán hàng từ ngày 23/6/2019 đến ngày 21/01/2020).
Theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng phân ph i độc quyền s 12/SPMP/HN, Nhà Phân ph i Ngọc A có nghĩa vụ thanh toán ngay 100% giá trị đơn đặt hàng đã thỏa thuận trong Hợp đồng, trong thời gian không vượt quá 03 ngày, sau khi Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB nhận được đơn đặt hàng của Nhà Phân ph i bằng văn b n có xác nhận của Công ty. Tuy nhiên, kể từ thời điểm nhận được đơn đặt hàng, Hóa đơn bán hàng lần cu i cùng ngày 21/01/2020 cho đến nay thì Nhà Phân ph i Ngọc A đã không tiến hành thanh toán cho Công ty. S tiền mua hàng Nhà Phân ph i Ngọc A còn nợ Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167đ, tổng là: 344.725.711 đồng.
Đề nghị Tòa án buộc ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y ph i thanh toán toàn bộ s tiền còn thiếu theo Hợp đồng phân ph i độc quyền s 12/SPMP/HN ngày 14/6/2019 là: 344.725.711 VNĐ, trong đó nợ g c là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167 đồng.
Bị đơn ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y đã khai: Ngày 14/06/2019 vợ chồng ông T, bà Y có ký hợp đồng mua bán Sơn với công ty Hóa chất MB do dịch bệnh nên không bán được hàng hóa trong khi đó công ty vẫn ép s n lượng sau đó đã tự chấm dứt hợp đồng mua bán với ông T và bà Y, các công nợ công ty tự thông báo mà không có sự bàn bạc hai bên. Từ khi ký hợp đồng mua bán ngày 14/9/2019 đến nay chưa nhận được hóa đơn giá trị giá tăng. Ông T, bà Y xác định đã tr hết s tiền hàng, vì vậy không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB về s nợ 344.725.711 VNĐ, trong đó nợ g c là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167đồng.
Tại b n án kinh doanh thương mại sơ thẩm s 04/2021/DS-ST Ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên đã Quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB về khởi kiện tranh chấp đại lý độc quyền đ i với ông An Xuân T, bà Đỗ Thị Y.
Buộc ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y có trách nhiệm tr cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB s tiền hàng còn nợ là 95.628.590 đồng (Chín mươi năm triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn năm trăm chín mươi đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB đ i với s tiền hàng là 166.845.954đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm b n mươi lăm nghìn chín trăm năm tư đồng) và 82.251.167đ (tám mươi hai triệu hai trăm năm mươi m t nghìn một trăm sáu mươi b y đồng) thuế giá trị gia tăng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người ph i thi hành án chậm thi hành án thì ph i chịu lãi đ i với s tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; kho n 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Án phí: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB ph i chịu 12.454.800 đồng án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch, được trừ s tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.569.000 đồng theo Biên lai thu s 0003016 ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph TN; ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y ph i chịu 4.781.000 đồng án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra b n án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 12/7/2021 ông Trần Văn Đ – chức vụ Giám đ c Công ty Luật TNHH Minh A là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hóa chất MB kháng cáo một phần b n án sơ thẩm với nội dung: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB có đủ căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y ph i thanh toán toàn bộ s tiền còn thiếu theo Hợp đồng phân ph i độc quyền s 12/SPMP/HN ngày 14/6/2019 là: 344.725.711 VNĐ, trong đó nợ g c là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167 đồng. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại để đ m b o quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB.
Ngày 13/7/2021 ông An Xuân T kháng cáo với nội dung không nhất trí b n án sơ thẩm, ông T cho rằng ông đã thanh toán đủ tiền nay không còn nợ, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty cổ phần XNK hóa chất MB.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, chấp nhận còn nợ Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB tính theo các hóa đơn g c mà ông T và bà Y đã ký xác nhận sau khi đã trừ đi s tiền ông T và bà Y đã thanh toán. Không chấp nhận tr thuế giá trị gia tăng như yêu cầu của Công ty.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB xác định trong 22 hóa đơn có chữ ký viết tay của ông T và bà Y là người nhận hàng thì:
Đ i với hóa đơn ngày 28/7/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 156.538.058 đồng. Sau khi đ i chiếu và tính toán thực tế s tiền bên ông An Xuân T ph i thanh toán hóa đơn này là 149.085.899 đồng. S tiền gi m so với s tiền ghi trên hóa đơn ph i thanh toán là 7.452.159 đồng.
Hóa đơn ngày 28/7/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 96.138.810 đồng. Sau khi đ i chiếu và tính toán thực tế s tiền bên ông An Xuân T ph i thanh toán hóa đơn này là 88.894.955 đồng. S tiền gi m so với s tiền ghi trên hóa đơn ph i thanh toán là 7.243.855 đồng.
Hóa đơn ngày 23/12/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 17.781.488 đồng. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB xác định đây là chữ ký g c của ông T và không đề nghị Hội đồng xét xử giám định lại chữ ký của ông T.
Đ i với 19 hóa đơn g c có chữ ký của ông T và bà Y là bên nhận hàng. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB xác định đúng như s tiền ghi trong hóa đơn cụ thể:
Hóa đơn ngày 23/6/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 60.640.360đồng.
Hóa đơn ngày 04/7/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 5.269.000đồng.
Hóa đơn ngày 04/7/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 3.112.824đồng
Hóa đơn ngày 19/7/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 869.389đồng.
Hóa đơn ngày 28/7/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 5.479.523đồng
Hóa đơn ngày 22/8/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 3.455.812đồng.
Hóa đơn ngày 24/8/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 8.630.820đồng
Hóa đơn ngày 26/8/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 2.908.038đồng
Hóa đơn ngày 27/8/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 653.639đồng
Hóa đơn ngày 28/8/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 407.314đồng
Hóa đơn ngày 05/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 74.030.408đồng
Hóa đơn ngày 09/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 2.851.195đồng
Hóa đơn ngày 09/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 76.147.162đồng
Hóa đơn ngày 20/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 7.220.558đồng
Hóa đơn ngày 26/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 4.739.648đồng
Hóa đơn ngày 30/9/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 1.666.283đồng
Hóa đơn ngày 07/10/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 1.539.509đồng
Hóa đơn ngày 30/10/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 103.953.600đồng
Hóa đơn ngày 02/10/2019 ghi s tiền ph i thanh toán là: 32.435.092đồng.
Đ i với 22 hóa đơn phô tô và 82.251.167 đồng thuế giá trị gia tăng đề nghị được chấp nhận. Công ty cho rằng, do ông T và bà Y không hợp tác với công ty để đ i chiếu công nợ, nhưng sau khi công ty nhắn tin ch t nợ thì ông T có nhắn tin còn nợ 262.000.000 đồng tiền hàng, có vi bằng. Tuy nhiên trong vi bằng không thể hiện thời gian ông T nhắn tin.
Tại phiên tòa Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông T và bà Y ph i tr cho công ty s tiền còn nợ là 344.725.711 đồng, trong đó nợ g c là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167 đồng.
Ông T và bà Y thừa nhận s tiền hàng của 19 hóa đơn nêu trên và 02 hoá đơn ngày 28/7/2019 mà nguyên đơn đã thừa nhận s tiền ph i thanh toán thực tế nêu trên là đúng. Riêng hóa đơn ngày 23/12/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 17.781.488 đồng, ông T xác định đây là chữ ký phô tô, sau đó có người tô lại, không ph i chữ ký của ông nên ông không chấp nhận. Đ i với s tiền của 22 hóa đơn phô tô công ty yêu cầu ông ph i tr , ông T không nhất trí.
Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều xác định ông T và bà Y đã thanh toán tiền hàng cho công ty trong theo hợp đồng là 571.840.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về đường l i gi i quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ kho n 2 Điều 308 của Bộ luật t tụng dân sự, Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông An Xuân T. Bác kháng cáo của Công ty cổ phần xuát nhập khẩu hóa chất MB. Sửa b n án sơ thẩm s 04/2021/KDTM-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB về khởi kiện tranh chấp đại lý độc quyền đ i với ông An Xuân T, bà Đỗ Thị Y. Buộc ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y có trách nhiệm tr cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB s tiền hàng còn nợ là 62.151.028 đồng. Nguyên đơn ph i chịu án phí phúc thẩm, ông T không ph i chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục t tụng:
Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB và
đơn kháng cáo của ông An Xuân T làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Xét nội dung kháng cáo của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại hợp đồng phân ph i độc quyền s 12/SPMP/HN ngày 14/6/2019 giữa Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB với Nhà phân ph i Ngọc A(Hộ kinh doanh bà Đỗ Thị Y) đã thỏa thuận về việc ký hợp đồng phân ph i độc quyền khu vực hãng sơn Yen’s Color. Ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y cùng ký hợp đồng và thực hiện.
Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB và Nhà phân ph i Ngọc Ado ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y thực hiện đều xác định thời điểm các bên thực hiện giao nhận hàng từ ngày 23/6/2019 đến ngày 21/01/2020. Mỗi lần giao hàng, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB đều có hóa đơn bán hàng, thể hiện ngày, tháng, địa chỉ bên nhận hàng, tên s n phẩm, mã s n phẩm, ĐVT, s lượng, đơn giá, s tiền thanh toán, chiết khấu %, có chữ ký của người giao hàng, người nhận hàng và có chữ ký của kế toán kho hoặc nhà s n xuất.
Quá trình thực hiện hợp đồng, dựa theo đơn đặt hàng của Nhà phân ph i Ngọc A, Công ty CP xuất nhập khẩu Hóa chất MB đã giao nhiều đợt hàng, NPP Ngọc A cũng đã thanh toán tiền làm nhiều lần cho công ty bằng hình thức tr trực tiếp hoặc chuyển kho n. Các bên đều xác nhận, tính đến nay, tổng s tiền nhà phân ph i Ngọc A(ông T và bà Y) đã tr cho Công ty CP xuất nhập khẩu Hóa chất MB là 571.840.000đồng.
Quá trình gi i quyết vụ án tại cấp sơ thẩm Công ty Công ty CP xuất nhập khẩu Hóa chất MB cung cấp 22 hóa đơn đặt hàng (theo công ty CPXNK Hóa chất MB) là b n g c, có chữ ký của 2 bên có tổng giá trị hàng hóa là 667.468.590đ và 22 hóa đơn b n photo có tổng giá trị hàng hóa là 261.990.021đ và xác định đó là các hóa đơn bán hàng thể hiện NPP Ngọc A còn nợ s tiền là 344.725.711 VNĐ, trong đó tiền hàng là 262.474.544đ, thuế giá trị gia tăng là 82.251.167đ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, công ty CPXNK Hóa chất MB và ông An Xuân T đều xác định: Hóa đơn ngày 28/7/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 156.538.058 đồng, sau khi đ i chiếu thực tế s tiền bên ông An Xuân T ph i thanh toán là 149.085.899 đồng (gi m so với s tiền ghi trên hóa đơn ph i thanh toán là 7.452.159 đồng) và hóa đơn ngày 28/7/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 96.138.810 đồng. Sau khi đ i chiếu thực tế s tiền bên ông An Xuân T ph i thanh toán hóa đơn này là 88.894.955 đồng. (gi m so với s tiền ghi trên hóa đơn ph i thanh toán là 7.243.855 đồng). Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận tổng s tiền thực tế tại hai hóa đơn nêu trên như các đương sự đã th ng nhất.
Đ i với hóa đơn ngày 23/12/2019 có ghi tổng s tiền ph i thanh toán là 17.781.488 đồng. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB xác định đây là chữ ký g c của ông T nhưng ông T xác định không ph i chữ ký của ông mà đây là nét tô lại chữ ký phô tô. Tuy nhiên, phía Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB không đề nghị Hội đồng xét xử giám định để xác định có ph i chữ ký của ông T hay không. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tuy chưa có kết qu giám định chữ ký của cơ quan chuyên môn nhưng có căn cứ cho thấy, đây là hóa đơn được phôtô lại, chữ ký được tô lại bằng mực tươi, do vậy không có căn cứ chấp nhận hóa đơn này là chứng cứ chứng minh đ i với kho n tiền 17.781.488 đồng mà công ty cho rằng ông T chưa thanh toán.
Đ i với 22 hóa đơn b n photo công ty xác định ông T và bà Y đã nhận hàng, nhưng ông T và bà Y không thừa nhận. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đ i với 22 hóa đơn photo như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phía nguyên đơn cung cấp 01 vi bằng ghi nhận tin nhắn zalo, 01 file ghi âm cuộc gọi giữa ông T và bà Nguyễn Thị H i Y, giám đ c công ty Hóa chất MB do văn phòng thừa phát lại Hai Bà Trưng thực hiện ngày 16/06/2021 nội dung đã ghi nhận sự kiện, hành vi bà Y sử dụng điện thoại cá nhân ghi nhận lại một s nội dung nhắn tin giữa bà Y – Tổng giám đ c công ty với ông T và b n ghi âm cuộc gọi, trong đó có nội dung ông T nhắn tin xác định s nợ 262 triệu, tuy nhiên tại phiên tòa ông T không thừa nhận. Ông T cho rằng, việc xác định nợ giữa hai bên cần ph i đ i chiếu sổ sách, phía công ty chưa lần nào đến đ i chiếu, do vậy giữa ông và công ty ông chưa biết còn nợ bao nhiêu tiền. Ông đề nghị công ty đưa ra các hóa đơn do ông ký nhận hàng của công ty để gi i quyết, ông T không thừa nhận nội dung tin nhắn nêu trên. Hội đồng xét xử thấy, vi bằng nêu trên do công ty cung cấp không thể hiện ngày giờ ông T đã nhắn tin. Mặt khác, đây là hợp đồng phân ph i độc quyền khu vực Hãng sơn Yen’n Color, các bên thực hiện hợp đồng thông qua việc giao nhận hàng hóa, có hóa đơn, bên nhận hàng ph i ký vào hóa đơn của bên giao hàng, trong hóa đơn giao hàng thể hiện s lượng hàng, giá, loại hàng....và tổng s tiền ph i thanh toán. Do vậy để xác định bên ông T đã nhận bao nhiêu hàng thì bên giao hàng là công ty ph i cung cấp chứng cứ, chứng minh được thể hiện qua các hóa đơn giao hàng mà ông T đã xác nhận. Vi bằng nêu trên không phù hợp với các hóa đơn giao nhận hàng giữa ông T và công ty CPXNK Hóa chất MB nên không có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ các hóa đơn giao nhận hàng hóa do hai bên đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận 21 hóa đơn có chữ ký g c của bên mua hàng (ông T và bà Y) với tổng s tiền hàng là 633.991.028 đồng. Ông T và bà Y đã thanh toán cho công ty là 571.840.000đồng. Nay ông T và bà Y ph i thanh toán cho Công ty CP xuất nhập khẩu Hóa chất MB là 62.151.028 đồng.
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn tr s tiền thuế giá trị giá tăng trên 03 hóa đơn của Công ty CP xuất nhập khẩu hóa chất MB đã xuất ra vào ngày 31/01/2020 s tiền thuế GTGT là 10% tiền hàng = 6.338.265đ; ngày 31/12/2019 = 50.845.735đ và 02/10/2020 = 25.067.167đồng tổng s tiền 82.251.167 đồng, thấy rằng s tiền 82.251.167đ giá trị gia tăng không khớp với s tiền hàng mà các bên đã giao hàng cho nhau và cũng phù hợp với tr lời của Chi cục Thuế quận HM về việc đã ban hành quyết định s 28881/QĐ-CCT-Ktr2-XPVPHC v/v xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn đ i với Công ty CP xuất nhập khẩu hóa chất MB, hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm theo quy định của pháp luật về hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn buộc bị đơn ph i tr tiền thuế gía trị gia tăng là 82.251.167 đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông An Xuân T. Sửa b n án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành ph TN.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
[3.] Về án phí. Ông T không ph i chịu án phí phúc thẩm, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB ph i chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Về án phí sơ thẩm, do cấp phúc thẩm sửa về trách nhiệm thanh toán tiền của ông T đ i với Công ty nên ông T ph i chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên tổng s tiền ph i tr cho công ty.
Các quyết định của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào kho n 2 Điều 308, Điều 309; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông An Xuân T. Sửa b n án kinh doanh thương mại sơ thẩm s 04/2021/KDTM-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ các Điều 30, k Điều 35 Điều 39 Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 166; 167; 168; 169; 175 Luật Thương mại; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB về khởi kiện tranh chấp đại lý độc quyền đ i với ông An Xuân T, bà Đỗ Thị Y.
Buộc ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y có trách nhiệm tr cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất MB s tiền còn nợ là 62.151.028 đồng (sáu mươi hai triệu, một trăm năm mươi m t nghìn, không trăm hai tám đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người ph i thi hành án chậm thi hành án thì ph i chịu lãi đ i với s tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; kho n 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Án phí phúc thẩm: Ông An Xuân T không ph i chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được hoàn lại 2.000.000đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp theo biên lai thu s 0005549 ngày 21/7/2021. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu hóa chất MB ph i chịu 2.000.000đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000đồng theo biên lai thu s 0005566 ngày 30/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành ph TN.
Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hóa chất MB ph i chịu 12.454.800 đồng (mười hai triệu b n trăm năm mươi tư nghìn tám trăm đồng) án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch, được trừ s tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.569.000 đồng theo Biên lai thu s 0003016 ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph TN; ông An Xuân T và bà Đỗ Thị Y ph i chịu 3.107.551đồng (ba triệu một trăm linh b y nghìn năm trăm năm m t đồng) án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch.
Các quyết định khác của b n án sơ thẩm, không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND TPTN; - THADS TPTN; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |