- Tranh chấp gì? "TRẦN THỊ THỨ - TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án: 03/2025/HS-PT Ngày 09 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Thật
Bà Lê Thị Hạng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 180/2024/TLPT – HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị TH do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố NH, tỉnh KH.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị TH- sinh ngày 24/10/1978 tại PY; Nơi cư trú và chổ ở: Thôn HS, xã AHH, huyện TA, tỉnh PY; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông TH và bà Lê Thị B (đều đã chết); Có chồng: Nguyễn Th, sinh năm: 1974, con: 02 con (Con lớn sinh năm 1998 và nhỏ sinh năm 2004); Tiền sự, tiền án: không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị TH và bà Mai Thị Hải Y có quen biết nhau do cùng thuê phòng tại nhà trọ, địa chỉ: số 32B đường Vân Đồn, phường Phước Hòa, thành phố NH. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14 tháng 12 năm 2022, Trần Thị TH đến phòng trọ tìm gặp chị Mai Thị Hải Y, nhưng thấy phòng khóa cửa, trước cửa có treo một chùm chìa khóa. Lợi dụng lúc không có người, nên Thứ cầm chìa khóa mở cửa đi vào phòng lấy trộm 01 (một) sợi dây chuyền kim loại vàng và 01 (một) mặt dây chuyền hình đức mẹ rồi mang đến tiệm vàng Kim M, địa chỉ số 62 đường LHP, phường PL, thành phố NH, bán mặt dây chuyền hình đức mẹ được 1.800.000 đồng, sau đó mua một đôi bông tai vàng giá 1.350.000 đồng, số tiền thừa 450.000 đồng và sợi dây chuyền vàng Thứ mang về nhà cất giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 240/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 06 năm 2023 của Hội đồng định giả tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Sợi dây chuyền bằng vàng 61% - 2,684 chỉ vàng trị giá 8.874.646 đồng. Đối với mặt dây chuyền hình Đức mẹ, Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá với lý do không đủ điều kiện cần thiết để tiến hành định giá.
Tại bản cáo trạng số 174/CT-VKSNT ngày 17 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NH, tỉnh KH đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố NH, tỉnh KH để xét xử đối với bị cáo Trần Thị THvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật H,ình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 199/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố NH, tỉnh KH quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Trần Thị TH 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét phần trách nhiệm dân sự;
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị cáo Trần Thị TH có đơn kháng cáo theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm; giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Trần Thị TH kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị TH thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm 199/2024/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố NH, tỉnh KH. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là một trong những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội:“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử phạt bị cáo 09 (Chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Mặt khác, cấp sơ thẩm chưa áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có thiếu sót. Vì vậỵ xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Về án phí: Bị cáo Trần Thị TH không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm:
Xử phạt bị cáo Trần Thị TH09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã AHH, huyện TA, tỉnh PY giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Bị cáo Trần Thị TH không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1- TANDTC; - VKSND tỉnh KH; - Sở Tư pháp tỉnh KH; - TAND TP. NH; - VKSND TP. NH; - Cơ quan điều tra – Công an TP. NH; - Phòng HS nghiệp vụ – Công an TP. NH - Chi cục THADS TP. NH; - Bị cáo; người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |