vanban.org

Bản án 03

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/02/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Khánh D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Đinh Khánh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đinh Khánh D phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2020/HS-ST

Ngày: 13/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn. 2. Bà Đặng Thị Bé. - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm - Kiểm sát viên. Trong các ngày 15 tháng 01 và 13 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo: Đinh Khánh D, sinh năm 1988 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số XX, đường Hai Bà T, Khu X, phường Quang T1, thành phố Hải D1, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đinh Văn D2, sinh năm 1959 (sống) và bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1960 (sống); vợ và con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08- 10- 2019 bị cáo Đinh Khánh D bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 42/2019/HS-ST ngày 08- 10-2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt). - Bị hại: 1. Trần Thanh H1, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Số X, Huỳnh Công T2, thị trấn Sa R, huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Võ Khánh B, sinh năm 1989 (vắng mặt tại phiên tòa). Địa chỉ: Số XX, Trần Tế X, phường X, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Người làm chứng: Khương V V, sinh năm 1996 (vắng mặt tại phiên tòa). Địa chỉ: Thôn X, xã Hoằng M, huyện Hoằng H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa năm 2015, Đinh Khánh D lập tài khoản facebook tên “ZZZZZZZZZZ” (sau này đổi tên là “ZZZZZZZ”), sử dụng hình ảnh cá nhân của người phụ nữ mà D không biết là ai, ở đâu làm ảnh đại diện và đăng cập nhật. Sau đó, D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên lên mạng internet mua của một người không rõ lai lịch 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) mang tên Khương V V sinh năm 1996, ngụ tại Thôn X, xã Hoằng M, huyện Hoằng H, tỉnh Thanh Hóa với giá 500.000 đồng. Ngày 20- 02- 2017, D sử dụng giấy chứng minh nhân dân của Khương V V mở tài khoản số 0011004336002 tại Vietcombank- chi nhánh Sở giao dịch Hà Nội để nhận tiền chiếm đoạt của người khác. D không có điện thoại để bán nhưng vẫn đăng tải những bài viết quảng cáo bán điện thoại di động giá rẻ trên trang facebook “ZZZZZZZ”. Nếu có người đồng ý mua, D yêu cầu họ chuyển tiền trước vào tài khoản Vietcombank tên chủ tài khoản Khương V V do D đăng ký. Khi nhận được tiền của bị hại, D chiếm đoạt tiêu xài cá nhân, tạm khóa facebook, tắt điện thoại không liên lạc với bị hại. Bằng phương thức thủ đoạn nêu trên, D đã chiếm đoạt tài sản của 02 người bị hại trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, như sau: - Lần thứ nhất: Khoảng tháng 10- 2017, Võ Khánh B sinh năm 1989, ngụ số X, đường Trần Tế X, phường X, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp sử dụng facebook của mình tên Võ Khánh B kết bạn với facebook tên “ZZZZZZ” để mua điện thoại di động. Sau khi nhắn tin trao đổi, anh B quyết định mua 01 điện thoại Galaxy Note 5 với giá 3.930.000 đồng nên gọi số điện thoại 0918326XXX4 đăng trên facebook “ZZZZZZZZZZZ” gặp D trao đổi cách thức mua hàng. D yêu cầu anh B chuyển tiền trước vào tài khoản tên Khương V V số 0011004336XXX của Vietcombank chi nhánh Hà Nội, khoảng 03 ngày sẽ chuyển hàng cho anh B. Ngày 04- 10- 2017 anh B đến Ngân hàng chuyển tiền mặt 3.930.000 đồng vào tài khoản trên. Ngày 06- 10- 2017, D làm giả giấy vận đơn rồi chụp hình gửi cho anh B, ghi thông tin cửa hàng của D là V Anh Mobile, số XXX, đường Tuệ

T3, huyện Sóc S, Thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được tiền, D chặn facebook Võ Khánh B, tạm khóa facebook ZZZZZZZZZ và dùng thẻ ATM rút tiền tiêu xài cá nhân hết. - Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 3- 2018, Đinh Khánh D sử dụng facebook “ZZZZZZZZ” đăng số điện thoại liên hệ 0936.860.XXX để nói chuyện với Trần Thanh H1, sinh năm 1991, ngụ số XX, đường Huỳnh Công T2, thị trấn Sa R, huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp qua tài khoản facebook “Đtdđ ZZZ”. Anh H1 đặt mua lô điện thoại gồm: 02 Iphone 5S, 02 Iphone 6S, 03 Samsung J7 Pro, 01 Samsung S8, tổng đơn hàng trị giá là 33.090.900 đồng. D yêu cầu anh H1 chuyển tiền trước sẽ chuyển hàng sau, anh H1 đồng ý. Ngày 13-3- 2018, anh H1 sử dụng dịch vụ internetbanking chuyển số tiền 33.090.900 đồng từ tài khoản số 0601000367827 của anh H1 vào tài khoản số 0011004336002 tên Khương V V tại Vietcombank chi nhánh Trần Quang KH1, Thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được tiền, D làm giả vận đơn đã gửi hàng và chụp ảnh gửi tin nhắn messenger trên facebook cho anh H1. Anh H1 tưởng thật đặt thêm lô hàng điện thoại gồm: 06 Samsung J7 Pro, 01 Samsung A8, 04 Samsung S8E với tổng trị giá là 31.655.000 đồng. Ngày 14- 3- 2018, anh H1 đến Ngân hàng Sacombank phòng giao dịch huyện Tân H, tỉnh Đồng Tháp chuyển tiền mặt 31.655.000 đồng vào tài khoản tên Khương V V. Khi nhận được tiền thì D chặn điện thoại, chặn facebook “Đtdđ ZZZZZZZ H1” và rút tiền chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tiền, anh H1, anh B đã tố giác đến Cơ quan Công an. Trong quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp nhận được Công V số 286/PC02-Đ7 ngày 30- 6- 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình về việc phối hợp điều tra xác minh vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo Đinh Khánh D thực hiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã điều tra và xác định Đinh Khánh D có thủ đoạn lập tài khoản facebook tên ZZZZZZ, ZZZZZZZZZZ, Viet A, dùng chứng minh nhân dân của Nguyễn Ngọc D3, Nguyễn Đình T3 để mở tài khoản các ngân hàng Vietcombank, MBBank, đăng thông tin giả bán điện thoại di động để chiếm đoạt tài sản của 02 người bị hại ở Thái Bình với tổng số tiền 48.830.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã nhận được phúc đáp về việc xác định bị hại trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo Đinh Khánh D thực hiện của Cơ quan điều tra các tỉnh: Đồng Tháp, Quảng Ni, H1 Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Phú Yên, An Giang, Cà Mau, Tuyên Quang, Quận Hoàn Kiếm- Thành phố Hà Nội, huyện Bình Đại- tỉnh

Bến Tre, Thành phố Huế. Do không đủ điều kiện, thẩm quyền để tiếp tục điều tra nên đã sao in các tài liệu liên quan chuyển đến Cơ quan điều tra các địa phương để khởi tố điều tra theo thẩm quyền. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại ở tỉnh Thái Bình đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố đối với Đinh Khánh D theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 08- 10- 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã xét xử và tuyên phạt Đinh Khánh D 01 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong quá trình điều tra, Đinh Khánh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 người bị hại Võ Khánh B, Trần Thanh H1. Đối với giấy tờ cá nhân của Khương V V và thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank - chi nhánh Hà Nội do bị cáo D đăng ký đã làm mất trong lúc chuyển nơi ở nên không thu giữ được. Đối với tên tài khoản facebook “ZZZZZZ” bị cáo D đổi tên thành “ZZZZZZZ” làm phương tiện lừa đảo cho đến khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình bắt tạm giam. Đối với Khương V V khai nhận: Khoảng tháng 11- 2016, anh V bị mất giấy chứng minh nhân dân, Giấy phép lái xe hạng A1, thẻ ATM Ngân hàng Vietcombank đăng ký năm 2014 khi ở phòng trọ thuộc Thôn B1, xã Kim C, huyện Đông A, Thành phố Hà Nội. Anh V đã làm thủ tục xin cấp lại giấy Căn cước công dân ngày 16- 12- 2016 và Giấy phép lái xe, do tài khoản không còn tiền nên không làm lại thẻ ATM khác. Anh V không sử dụng giấy chứng minh nhân dân mở tài khoản ngân hàng Vietcombank chi nhánh Sở giao dịch Hà Nội vào ngày 20- 02- 2017, không sử dụng tài khoản facebook ZZZZZZZ, ZZZZZZZZ, không quen biết hay giúp sức cho Đinh Khánh D thực hiện hành vi lừa đảo. Đối với các điện thoại di động bị cáo D sử dụng làm phương tiện liên lạc lừa dối để chiếm đoạt tiền bị hại đã được xử lý xong tại Bản án số 42/2019/HS-ST ngày 08-10- 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Tại Cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Đinh Khánh D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Ngày 02- 01- 2020, bị cáo Đinh Khánh D có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa với lý do bị cáo đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, sức khỏe bị cáo không được tốt do bị viêm gan và mất ngủ kéo dài. Bị cáo thừa nhận các ý kiến mà bị cáo đã trình bày trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo xin giữ nguyên, không bổ sung hoặc thay đổi gì khác và bị cáo không thuê người bào chữa cho bị cáo để bào chữa tại phiên tòa. Đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo Đinh Khánh D có xác nhận của Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

Ngày 16- 12- 2019, bị hại Võ Khánh B nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp biên nhận nhận tiền thể hiện nội dung vào ngày 14- 12- 2019 anh B đã nhận được toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại của bị cáo D là 3.930.000 đồng và anh B nộp đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D. Ngày 14- 12- 2019, gia đình bị cáo Đinh Khánh D đã bồi thường cho bị hại Trần Thanh H1 số tiền 30.000.000 đồng, anh H1 có làm biên nhận, gia đình bị cáo D đã nộp biên nhận này cho Tòa án. Đến ngày 11- 02- 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhận được Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị hại Trần Thanh H1 với lý do anh H1 bận đi công tác xa. Trong đơn, anh H1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị cáo D bồi thường cho anh số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt còn lại là 34.745.900 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trình bày lời luận tội đối với bị cáo phát biểu: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Đinh Khánh D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Kiểm sát viên cho rằng trong vụ án này, bị cáo D thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 02 người và thực hiện nhiều lần, do đó bị cáo D pH1 chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định ở điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mẹ của bị cáo có thành tích đối với sự nghiệp giáo dục và được tặng kỷ niệm chương theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đinh Khánh D mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đang chấp hành hình phạt của nhiều bản án, không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay gia đình của bị cáo D đã bồi thường cho anh Trần Thanh H1 số tiền 30.000.000 đồng, vậy bị cáo D còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Trần Thanh H1 số tiền chiếm đoạt còn lại là 34.745.900 đồng. Đối với số tiền 3.930.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại Võ Khánh B, bị cáo đã bồi thường xong trước khi xét xử, nên đề nghị không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra, truy tố không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đinh Khánh D có đơn xin xét xử vắng mặt và bị cáo thừa nhận, không bổ sung, thay đổi các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không yêu cầu người bào chữa. Bị hại Trần Thanh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo D bồi thường tiếp số tiền mà bị cáo chiếm đoạt còn lại là 34.745.900 đồng. Bị hại Võ Khánh B đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường của bị cáo là 3.930.000 đồng, Tòa án đã triệu tập đúng thủ tục luật định nhưng anh B vẫn không tham gia phiên tòa. Tòa án cũng đã triệu tập đúng thủ tục đối với người làm chứng Khương V V nhưng qua các lần mở phiên tòa, anh V vẫn không có mặt. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra thì lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng đã được thể hiện đầy đủ và việc xét xử vắng mặt vẫn đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290, Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại và người làm chứng. [3] Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đinh Khánh D có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bị cáo đang bị bệnh. Trong đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo thừa nhận thống nhất với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, khởi tố, bị cáo không thay đổi hay bổ sung gì thêm. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo D tại Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can từ bút lục số 71 đến bút lục số 85 đều thừa nhận có hành vi tạo tài khoản facebook “ZZZZZZZZZZZZ” với ảnh đại diện là người phụ nữ, bị cáo mua giấy tờ mang tên Khương V V bị mất trộm được rao bán trên mạng internet, sử dụng giấy chứng minh nhân dân của Khương V V mở tài khoản tại Vietcombank, sau đó đăng thông tin giả bán điện thoại di động giá rẻ làm cho các bị hại tin tưởng mua, chuyển tiền trước qua tài khoản Ngân hàng cho bị cáo. Sau khi nhận được tiền trong tài khoản, bị cáo chiếm đoạt tiêu xài cá nhân, khóa facebook và chặn liên lạc với các bị hại. Bị cáo thừa nhận đã dùng thủ đoạn gian dối trên chiếm đoạt của bị hại Võ Khánh B một lần với số tiền là 3.930.000 đồng, chiếm đoạt của bị hại Trần Thanh H1 hai lần với tổng số tiền là 64.745.900 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt của hai bị hại là 68.675.900 đồng.

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, dữ liệu in sao kê của Ngân hàng, Biên bản kiểm tra điện thoại, tin nhắn qua facebook và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. [5] Bị cáo Đinh Khánh D là người đã thành niên, bị cáo nhận thức rõ việc mình không có điện thoại để bán, không kinh doanh mua bán điện thoại di động nhưng bị cáo lập facebook giả để rao bán điện thoại, dùng giấy tờ người khác để mở tài khoản ngân hàng, khi nhận tiền của bị hại xong thì không giao hàng mà chiếm đoạt tiền của họ để tiêu xài cá nhân. Từ đó đủ cơ sở khẳng định bị cáo có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện giao dịch mua bán, sau khi giao dịch được thực hiện thì chiếm đoạt tiền của người tham gia giao dịch với mình. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, chiếm đoạt tổng số tiền của hai bị hại là 68.675.900 đồng, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định như sau: “… 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: … c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. …” [6] Về nhân thân, xét thấy bị cáo Đinh Khánh D có nhân thân không tốt. Từ ngày 03- 10- 2018 bị cáo D có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều người, nhiều lần ở tỉnh Thái Bình (sau thời gian lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Đồng Tháp) và đến ngày 08- 10- 2019, bị cáo D bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm tại Bản án số 42/2019/HS-ST tuyên phạt mức án 01 năm tù. Ngoài ra, theo kết quả điều tra thể hiện, bị cáo D đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nhiều tỉnh, thành khác trong nước và đang bị điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. [7] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị cáo D đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Võ Khánh B 01 lần và của anh Trần Thanh H1 02 lần. Do đó bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. [8] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại một phần thiệt hại, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, do đó bị cáo được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51

Bộ luật hình sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Lan Hương có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương, do đó bị cáo được xem xét giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [9] Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần pH1 có mức án nghiêm minh để xử lý bị cáo, giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật. Tuy nhiên khi kết án, Hội đồng xét xử không thể tổng hợp hình phạt của bị cáo ở vụ án này với hình phạt của bị cáo ở các vụ án khác, vì không đủ cơ sở để biết đã có bao nhiêu bản án kết án có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo. Do đó, việc tổng hợp hình phạt của bị cáo sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự. [10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại Võ Khánh B toàn bộ số tiền chiếm đoạt, bị hại không còn yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, nên không đặt ra để xem xét giải quyết. Còn đối với bị hại Trần Thanh H1, buộc bị cáo còn pH1 bồi thường tiếp tục số tiền còn lại là 34.745.900 đồng cho anh H1. [11] Về án phí: Bị cáo Đinh Khánh D pH1 chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [12] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Khánh D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Đinh Khánh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. 2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 468, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đinh Khánh D pH1 bồi thường cho bị hại Trần Thanh H1 số tiền 34.745.900 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi lăm ngàn chín trăm đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại Trần Thanh H1 mà bị cáo chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1

Điều 23 và các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Khánh D pH1 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.737.295 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án đúng trình tự, thủ tục luật định. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ