- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Lò T và Ly Phi T phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HSST Ngày 14/3/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bằng
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Thế Tiến
2. Ông Sùng Thải Sinh
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Mào Thị Chiến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2019 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2019/HSST ngày 24/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HS ngày 01/3/2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phùng Lò T; tên gọi khác: không;
Sinh năm 1980 tại Nậm Nhùn, Lai Châu;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: La Hủ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Phùng Phu Ch (đã chết) và con bà Ly Ché X (đã chết); bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ: Pờ Thị Th (đã ly hôn)
Con: bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 60-QĐ/UBKTTHU ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Bị cáo được áp dụng biện pháp lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/11/2018. Hiện trú tại bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Ly Phí T; tên gọi khác: Lý Phí T;
Sinh năm 1988 tại Nậm Nhùn, Lai Châu;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hà Nhì; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lý Mò M, sinh năm 1968 và con bà Lý Phí D, sinh năm 1969, hiện trú tại bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, Vợ con bị cáo chưa có.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/11/2018. Hiện trú tại bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Những người tham gia tố tụng khác:
1. Đại diện bị hại:
Ông Chu Tất Khánh, Chức vụ Đội trưởng Đội quản lý đường bộ 5
Trú tại thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt tại phiên toà có lý do).
2. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Thào A Sính, sinh năm 1983
Trú tại: Bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt tại phiên toà có lý do).
- Chị Ma Thị Dia, sinh năm 1992
Trú tại: Bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt tại phiên toà có lý do).
- Anh Phùng Ha Hừ, sinh năm 1972
Trú tại: Bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt tại phiên toà có lý do).
- Anh Ly A Hùng, sinh năm 1994
Trú tại: Bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt tại phiên toà có lý do).
* Người bào chữa cho bị cáo các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T: Ông Phan Văn Nhật – Luật sư trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 20 phút, ngày 21/8/2018, tổ công tác Đồn Công an Trung Chải tiến hành tuần tra, kiểm soát tại đoạn Km 52+100, quốc lộ 4H, đoạn đường Pa Tần – Mường Tè, thuộc địa phạn bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn thì phát hiện bắt quả tang hai đối tượng Ly Phí T và Phùng Lò T đều trú tại bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn đang có hành vi vận chuyển bằng xe máy Sirius màu đen trắng, biển kiểm soát 25B1-35361 chở 03 cột phòng vệ mền về hướng trung tâm bản Chang Chảo Pá. Ly Phí T và Phùng Là T khai nhận đó là 03 cột phòng vệ mà Phùng Lò T và Ly Phí T vừa lấy trộm tại Km 54 đường Pa Tần - Mường Tè thuộc địa phận xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng nêu trên.
Qua trình điều tra đối với Ly Phí T , xác định: vào khoảng 13 giờ ngày 21/8/2018, Phùng Lò T và Ly Phí T cùng nhau đi tìm máy phát điện của anh Ly Ha Xá trú cùng bản Chang Chảo Pá bị lũ cuấn trôi nhưng không tìm thấy. T bàn với T đi lấy cột hộ lan đường bị sạt lở ở lòng suối Hua Bum tại Km54 đường Pa Tần – Mường Tè để bán lấy tiền đổ xăng xe. Bàn bạc xong Phùng Lò T và Ly Phí T đi mượn 01 chiếc cuốc, 02 xà beng và 01 xe máy của Phùng Ha Hừ và Ly A Hùng cùng trú tại bản Chang Chảo Pá. Đến khoảng 17 giờ 00 phút T và T đào được 03 cột hộ lan mềm. Sau khi rửa sạch, T và T khiêng 03 cột hộ lan mềm lên xe máy để mang đi tiêu thụ thì bị tổ công tác Đồn Công an Trung Chải phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra đối với Phùng Lò T , xác định: Vào khoảng đầu tháng 8 năm 2018 trên địa bàn xã Hua Bum xảy ra mưa lũ nhiều khiến hành lang phòng vệ mềm tại Km 54 đường Pa Tần – Mường Tè bị sạt lở và rơi xuồng phía tà luy âm. Phùng Lò T thấy Công ty cổ phần xây dựng và quản lý đường bộ I tỉnh Lai Châu không trông coi, giám sát nên đã nảy sinh ý định trộm cắp mang đi bán.
Lần thứ nhất, vào khoảng đầu tháng 8 năm 2018, Phùng Lò T trộm cắp được 01 tấm hộ lan mềm bán cho Thào A sính ở bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn được 75.000 đồng. Số tiền trên bị cáo đã tiêu sài hết vào mục đích các nhân. Quá trình điều tra, Thào A Sính thừa nhận có mua của Phùng Lò T 01 tấm hộ lan mềm rồi bán cho một người đàn ông tên Thọ ở thị trấn Mường Tè, tuy nhiên do Sính không biết lai lịch của Thọ nên cơ quan điều tra không thu giữ được tấm hộ lan mềm nói trên.
Lần thứ hai, T tiếp tục chiếm đoạt được 06 tấm hộ lan mềm, 01 tấm đệm hộ lan mềm và và 02 cột hộ lan mềm rồi mang lên cạnh quốc lộ 4H. Tại đây T gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, đang điều khiển xe máy đi qua. Qua trao đổi, T thuê người đàn ông đó chở tài sản trên đi bán cho Ma Thị Dia trú tại bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn với số tiền là 850.000 đồng. Mua bán xong, T trả công cho người đàn ông đó 100.000 đồng số tiền còn lại T đã tiêu sài hết vào mục đích cá nhân. Quá trình điều tra, Ma Thị Dia thừa nhận có mua của Phùng Lò T 06 tấm hộ lan mềm, 01 tấm đệm hộ lan mềm và 02 cột hộ lan mềm và tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra.
Lần thứ ba, Phùng Lò T và Ly Phí T trộm cắp 03 cột hộ lan phòng vệ mềm. khi T và T , mang đi tiêu thụ thì bị công an huyện Nậm Nhùn phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.
Quá trình Điều tra Phùng Lò T còn khai nhận trong tháng 8/2018 tại Km 54 Phùng Lò T đã trộm cắp 02 tấm hộ lan mềm, do không có xe máy để chở nên đã để lại lề đường, khoảng 02 ngày sau T mượn xe máy quay lai để chở đi bán thì không thấy hai tấm hộ lan nữa. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T , cơ quan điều tra không thu giữ được tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở để xử lý đối với T về lần thực hiện này.
Tại các bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2018, bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2018 và bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Nậm Nhùn kết luận:
- 06 tấm hộ lan mềm được lắp mới và đưa vào sử dụng từ năm 2016 có giá 4.080.000 đồng.
- 02 cột hộ lan mềm được lắp mới và đưa vào sử dụng từ năm 2016 có giá 1.340.000 đồng.
- 01 tấm đệm hộ lan mềm được lắp mới và đưa vào sử dụng từ năm 2016 có giá 180.000 đồng.
- 03 cột hộ lan mềm được lắp mới và đưa vào sử dụng từ năm 2016 có giá 2.010.000 đồng.
- 01 tấm hộ lan mềm được lắp mới và đưa vào sử dụng từ năm 2016 có giá 680.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 8.290.000 đồng.
Cáo trạng số 02/CT- VKS-NN ngày 23/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn đã truy tố các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu vẫn giữ nguyên quan điểm như quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phùng Lò T từ 09 đến 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản";
Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 17 Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ly Phí T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản". Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;
Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Chu Tất Khánh, Chức vụ Đội trưởng Đội quản lý đường bộ 5 đại diện bị hại không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Tại phiên toà người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Lò T mức thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ly Phí T dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về án phí đề nghị áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Từ các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của các bị cáo, ý kiến của đại diện bị hại và người bào chữa cho các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm Nhùn, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 21/8/2018, Phùng Lò T và Ly Phí T hành vi trộm cắp 03 cột hộ lan đường của Công ty quản lý đường bộ I để bán lấy tiền tiêu sài, sau khi mang đi tiêu thụ thì bị tổ công tác Đồn Công an Trung Chải phát hiện bắt quả tang. Tài sản trộm cắp của bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T có trị giá tài sản là 2.010.000 đồng.
Ngoài lần trộm cắp tài sản cùng với Ly Phí T bị cáo Phùng Lò T trong tháng 8 năm 2018, bị cáo còn trộm cắp thêm hai lần, lần một trộm cắp được 01 tấm hộ lan mềm có trị giá 680.000 đồng; lần thứ 2, Phùng Lò Tư tiếp tục trộm cắp được 06 tấm hộ lan mềm, 01 tấm đệm hộ lan mềm và và 02 cột hộ lan mềm có trị giá 5.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo Phùng Lò T đã trộm cắp là 8.290.000 đồng.
Hành vi trên của các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã bàn bạc trộm cắp các thiết bị của phòng vệ mềm giao thông, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên điạ bàn. Các bị cáo không chịu lao động chân chính để kiếm tiền một cách hợp pháp mà đã cố ý phạm tội. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là các các thiết bị phòng vệ mềm là vi phạm pháp luật nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Xong khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên toà và trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế và bị cáo Ly Phí T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Phùng Lò T còn tự nguyện khai báo thêm về hành trộm cắp tài sản, trong đó bị cáo có 2 lần trộm cắp có giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng, bị cáo Phùng Lò T có bố được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy, bị cáo Phùng Lò T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ly Phí T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phùng Lò T phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Ly Phí T phạm tôi lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luât hình sự nên có đủ điều kiện theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, do vậy xét thấy cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo có khó khăn, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo theo quy định tại khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu xe máy Sirius màu đen trắng, biển kiểm soát 25B1-35361, chiếc xe máy Ly Phí T mượn của anh Ly A Hùng, 01 chiếc quốc và 02 xà beng các bị cáo đã mượn của anh Phùng Ha Hừ. Anh Ly A Hùng và Phùng Ha Hừ không biết việc các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ly A Hùng chiếc xe máy và trả cho anh Phùng Ha Hừ 01chiếc cuốc và 02 chiếc xà beng mà các bị cáo đã mượn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nậm Nhùn đã trả lại cho Công ty quản lý đường bộ I Lai Châu 06 tấm hộ lan mềm, 01 tấm đệm hộ lan mềm và 05 cột hộ lan mềm, đã thu giữ của Thào A Sính và Ma Thị Dia đã mua của bị cáo Phùng Lò Tư.
Đối với số tiền bị cáo T khai do phạm tội mà có, tuy nhiên số tiền bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về trách nhiệm dân sự:
Ông Chu Tất Khánh, Chức vụ Đội trưởng Đội quản lý đường bộ 5, đại diện Công ty cổ phần xây dụng và quản lý đường bộ I tỉnh Lai Châu, trong quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Ma Thị Dia và anh Thào A Sính có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và không yêu cầu bị cáo Phùng Lò T phải có trách nhiệm trả lại cho anh Sính và chị Dia số tiền mà anh chị đã mua số sắt thiết bị hộ lan mềm của bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với Thào A Sinh và Ma Thị Dia là người đã mua các thiết bị hộ lan mềm của Phùng Lò T trộm cắp được, nhưng quá trình mua, bán Sính và Dia không biết đó là tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có nên hành vi mua bán của Sính và Dia không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý.
Đối với với người đàn ông mà Phùng Lò T đã thuê chở tài sản trộm cắp đem đi bán cho Ma Thị Dia. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi và địa chỉ, nên cơ quan điều tra không thể xác định được để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T sinh sống thuộc khu vực khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên cần áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Lò T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt tù.
Áp dụng khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58; Điều 65 của của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ly Phí T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án 14/3/2019. Giao bị cáo Ly Phí To cho Ủy ban nhân dân xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu gián sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của ản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phùng Lò T và Ly Phí T .
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Đại diện bị hại; - Người CQLNVLQ; - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Nậm Nhùn; - UBND xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn; - Công an huyện Nậm Nhùn; - Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Bằng |