- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức V phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức V, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 69/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2023/HS-PT Ngày: 16/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền, Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 156/2022/HSPT ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Phan Đức V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 69/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân T, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo kháng cáo:
Phan Đức V, sinh ngày 22/11/1995 tại huyện T1 tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T1, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn K và bà Lê Thị Mai H; Có vợ: Nguyễn Thị Thanh Th và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/7/2022 đến ngày 14/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Vụ án còn có các bị cáo Bùi Công Ng, Nguyễn Văn N, Hoàng Chí L, Nguyễn Phùng H và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân L, chị Dương Thị Hằng N, chị Tăng Thị Nh, chị Tăng Thị H nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân trong quá trình tham gia giao thông giữa Dương Thị Hằng N với Bùi Công Ng, Nguyễn Xuân L cùng với Phan Đức V đã tìm và đánh Bùi Công Ng. Bực tức vì bị đánh, Bùi Công Ng cùng với Nguyễn Văn N, Hoàng Chí L và Nguyễn Phùng H đã cùng nhau đi tìm Nguyễn Xuân L và Phan Đức V để đánh lại. Khi tìm thấy Nguyễn Xuân L và Phan Đức V, Bùi Công Ng cùng với Nguyễn Văn N, Hoàng Chí L và Nguyễn Phùng H đã đuổi theo L và V để đánh rồi Phan Đức V dùng súng diêm bắn. Việc các bị cáo đuổi đánh, chửi bới, dùng súng bắn gây ồn ào làm mất trật tự trên vỉa hè và trục đường D thuộc khu dân cư đoạn gần Ủy ban nhân dân phường T vào thời điểm đêm khuya đã gây tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Với hành vi phạm tội trên, tại bản án số: 69/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân T, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Phan Đức V, Bùi Công Ng, Nguyễn Văn N, Hoàng Chí L và Nguyễn Phùng H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Đức V 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ 05/7/2022 đến 14/7/2022.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Công Ng 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Chí L 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phùng H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Án sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 10/10/2022 bị cáo Phan Đức V có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án sau khi phân tích hành vi, vai trò các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức V sửa bản án hình sự sơ thẩm số 69/2022/HSST ngày 29/9/2022 của TAND T, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Phan Đức V.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 22 giờ 15 phút ngày 16/6/2022, tại khu vực đường D, thuộc tổ dân phố Trung Lân, phường T thành phố T, tỉnh Hà Tĩnh; do mâu thuẫn cá nhân nên Phan Đức V, Bùi Công Ng, Nguyễn Văn N, Hoàng Chí L, Nguyễn Phùng H đã la hét, rượt đuổi, đánh nhau, Phan Đức V dùng súng bắn diêm bắn 03 phát hướng lên trời còn Nguyễn Văn N và Hoàng Chí L dùng vật nghi là gạch đá ném Phan Đức V. Việc các bị cáo đuổi đánh nhau, bắn súng, ném gạch, la hét làm náo loạn, mất an ninh trật tự nghiêm trọng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Theo đó Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Cấp sơ thẩm đã lên các mức án phù hợp với tính chất, hành vi, vai trò phạm tội của các bị cáo.
Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nội dung kháng cáo của bị cáo Phan Đức V thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh theo điểm, khoản điều luật nói trên là đúng pháp luật không oan, sai. Bị cáo không yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm làm rõ thêm bất kỳ tình tiết, nội dung nào của vụ án mà chỉ tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú..v..v. Những tình tiết này cấp sơ thẩm đã xem xét và cho bị cáo được hưởng đầy đủ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận và cung cấp giấy tờ chứng minh ông nội Phan Song H có Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì và bà nội Trần Thị D có huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và thương binh ¾. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nhằm thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đức V, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 69/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
[2] Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức Vphạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ khoản 1 điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Đức V 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phan Đức V cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
[3] Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 bị cáo Phan Đức V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 27 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm; - Bị cáo; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thị Thu Hiền Hồ Đức Quang | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Ngân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |