vanban.org

Bản án 03/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lường Thị T. Về quan hệ hôn nhân: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị T ly hôn Cầm Ngọc Th"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/HNGĐ-ST
Ngày:14-3-2022
“V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lường Thị Hoàn

2. Ông Ngô Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2021/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lường Thị T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Bản L, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái.

“Vắng mặt có lý do”

2. Bị đơn: Anh Cầm Ngọc Th, sinh năm 1988

Địa chỉ: Bản L, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái.

“Vắng mặt có lý do”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Lường Thị T trình bày: Chị

và anh Cầm Ngọc Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/01/2008 tại UBND phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn chị về sống cùng với gia đình nhà chồng tại tổ B, phường T, thị xã N. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống về kinh tế và nuôi dạy con chung. Nay chị T xác định không còn tình cảm đối với anh Th nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Tại bản tự khai anh Cầm Ngọc Th trình bày anh và chị Lường Thị Tđăng ký kết

hôn tự nguyện ngày 30/01/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chủ yếu từ việc do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, từ năm 2016 vợ chồng đã ly thân. Đến nay chị T xin ly hôn anh Th nhất trí.

Về con chung: Chị T và anh Th khai thống nhất có 01 con chung là Cầm Ngọc

Q, sinh ngày 20/01/2009. Khi ly hôn chị Tnhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, chị không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh Th đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của cháu Q.

Về tài sản chung và nợ chung chị T và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho anh

Cầm Ngọc Th, anh Th đã có bản tự khai nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, do anh Th thường xuyên không có mặt ở nhà; chị nguyên đơn chị Lường Thị T yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.

Tại biên bản xác minh thể hiện, chị Lường Thị T và anh Cầm Ngọc Th có đăng

ký kết hôn theo quy định của pháp luật và đúng như chị T trình bày. Quá trình chung sống anh Th thường xuyên vắng nhà, ít quan tâm đến gia đình vợ con, từ khoảng 02 năm nay chị T đã đưa con về bên ngoại ở. Ngoài ra, anh Th còn thuộc diện người nghi sử dụng chất ma túy tại địa phương. Nay chị T xin ly hôn, nuôi con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký việc

chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 72 của bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia

đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lường Thị T, xử cho cho chị Lường Thị T được ly hôn với anh Cầm Ngọc Th.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82 và Điều 83 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử giao cho chị Lường Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Cầm Ngọc Q, sinh ngày 20/01/2009. Do chị T không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập để giải quyết.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa

và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngày 22/11/2021 chị Lường Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Cầm Ngọc

Th có hộ khẩu thường trú tại tổ B, phường T thị xã N, tỉnh Yên Bái. Căn cứ quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án,

thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HNGĐ, Giấy triệu tập, nhưng cả 2 đương sự chị Lường Thị T và anh Cầm Ngọc Th đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lường Thị T và anh Cầm Ngọc Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký

ngày 30/01/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ

yếu do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Thìn thường xuyên vắng nhà, ít quan tâm đến gia đình vợ con, vợ chồng đã ly thân được khoảng hai năm, thể hiện hôn nhân của họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Chị Lường Thị T và anh Cầm Ngọc Th có con chung là Cầm Ngọc Q, sinh ngày

20/01/2009. Xét thấy hiện nay cháu Q đang do chị T, trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có nguyện vọng được nuôi con, anh Th đồng ý giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của cháu Q (cháu Q xin được ở với mẹ), nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết tiếp tục giao cháu quyền cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế và đúng quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Th không yêu cầu Tòa án giải

quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Lường Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ

thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228,

Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lường Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho chị Lường Thị T được ly hôn anh Cầm Ngọc Th.

2. Về con chung:

Xử giao cho chị Lường Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng

và giáo dục con chung là Cầm Ngọc Q, sinh ngày 20/01/2009.

Anh Cầm Ngọc Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người

không trực tiếp nuôi cón có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Lường Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ

thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số AA/2021/0001050 ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ; chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị T và anh Cầm Ngọc Th có quyền kháng

cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ