vanban.org

Bản án 03/HCST — Hành chính

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 16/07/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T.

Về án phí: Bà Đàm Thị T được miễn án phí hành chính sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Đàm Thị T + Trung tâm CNTTTNMT"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T.
  • Căn cứ chính? Luật Tiếp cận thông tin; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 2 Luật Khiếu nại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HC-ST
Ngày 16 tháng 7 năm 2020
V/v khởi kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực khiếu nại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sa Văn Khuyên.

Ông Lê Bắc Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/TLHC-ST ngày 13 tháng 4 năm 2020 về việc; Khiếu kiện quyết định hành chính trong giải quyết khiếu nại. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐST- HC ngày 16 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Đàm Thị T, số nhà 839, tổ 3, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, có mặt.

Người bị kiện: Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường, tỉnh Sơn La. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thúy H; chức vụ: Giám đốc, ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T; chức vụ, Phó giám đốc (theo Văn bản ủy quyền số 134/CNTT-HC ngày 07/7/2020), có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bà Đàm Thị T trình bày:

Ngày 11/9/2018, bà T được Trung tâm Công nghệ Thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La cung cấp cho tờ bản đồ F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994 và hồ sơ giao đất của 89 hộ gia đình tại phường Quyết Tâm (bản photo) nhưng do chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ, vì vậy ngày 6/01/2020 và ngày 10/01/2020 bà T có gửi 02 phiếu yêu cầu Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La cung cấp cho bà thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ gốc F48-l00(45-5) đo ngày 20/3/1994 đang được lưu trữ tại Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có đủ cơ sở pháp lý để làm căn cứ cấp giấy CNQSD đất cho các hộ gia đình có tên tại tờ bản đồ nêu trên hay không đủ cơ sở pháp lý ? Có được phép lưu hành hay không được phép lưu hành? Hiện nay đã có tờ bản đồ nào thay thế tờ bản đồ gốc F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994 hay chưa có tờ bản đồ nào thay thế?. Đến ngày 31/01/2020, Trung Tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có văn bản Số: 17/CNTT-DLLT về việc cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T. Nhưng Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ nêu trên cho bà mà “Đề nghị bà nghiên cứu công văn số: 22/ĐĐ&ĐĐBĐ ngày 20/01/2020 của Phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ về việc phối hợp trả lời phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của công dân Đàm Thị T” là trái với quy định của pháp luật, có dấu hiệu đùn đẩy né tránh trách nhiệm. Vì vậy ngày 04/02/2020 bà T đã gửi đơn khiếu nại đến Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La xem xét giải quyết khiếu nại của bà theo quy định.

Đến ngày 28/3/2020, bà T nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số: 12/QĐ-CNTT ra ngày 12/3/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài Nguyên và Môi trường không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của bà với lý do khiếu nại sai, không có căn cứ pháp luật. Bà T không nhất trí vì cho rằng, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La là cơ quan có thẩm quyền đang trực tiếp quản lý và lưu trữ tờ bản đồ gốc F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994 phải có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho công dân. Nhưng lại không cung cấp thông tin cho bà, mà căn cứ vào công văn số: 22/ĐĐ-ĐĐBĐ ngày 20/01/2020 cùa Phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ để đùn đẩy né tránh trách nhiệm là trái với quy định của pháp luật.

Do đó, bà Đàm Thị T khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết:

1. Yêu cầu hủy bỏ một phần của văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994.

2. Yêu cầu hủy bỏ quyết định số: 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị T trú tại số nhà 839 tổ 3 phường Quyết Tâm thành phổ Sơn La ( lần đầu).

3. Buộc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có trách nhiệm cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà T theo đúng quy định của pháp luật.

* Theo nội dung văn bản ghi ý kiến và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Giám đốc Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La trình bày:

Đối với nội dung hủy bỏ một phần văn bản số 17/CNTT- DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La: Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường có chức năng, nhiệm vụ: “Thực hiện các hoạt động về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường thuộc phạm vi quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường; Thu thập, tích hợp, xử lý, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường; phục vụ quản lý Nhà nước và cộng đồng; hỗ trợ phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý và theo phân cấp; tổ chức thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.” theo Quyết định số 104/QĐ-STNMT ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ có quy định: ''Điều 8. 1. Trách nhiệm của đơn vị đầu mối cung cấp thông tin; 2. Tiếp nhận, xử lý các yêu cầu cung cấp thông tin của công dân; chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xử lý yêu cầu cung cấp thông tin và thực hiện cung cấp thông tin cho công dân theo yêu cầu.”

Sau khi nhận được phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T, do có nội dung yêu cầu cung cấp tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100 (45-5) không thuộc chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường, do vậy, Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đã phối họp với phòng chuyên môn của Sở để cung cấp thông tin và thực hiện cung cấp thông tin cho người yêu cầu (Công văn số 09/CNTT-DLLT về việc phối hợp trả lời Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của công dân Đàm Thị T).

Sau khi nhận được văn bản đề nghị phối hợp cung cấp thông tin, Phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số 22/ĐĐ&ĐĐBĐ ngày 20/01/2020 về việc Phối hợp trả lời phiếu yều cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T gửi Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường.

Trên cơ sở ý kiến phối hợp của cơ quan chuyên môn, Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đã chuyển tiếp nội dung phối hợp cho công dân Đàm Thị T biết thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100 (45-5) theo nội dung đề nghị (công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31 tháng 01 năm 2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường tỉnh Sơn La).

Do đó, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc Sở để cung cấp thông tin cho công dân Đàm Thị T theo đúng quy định của pháp luật. Việc bà Đàm Thị Tươi cho rằng văn bản số: 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2019 về việc cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của Bà Đàm Thị T trái với quy định của Luật tiếp cận thông tin, có dấu hiệu đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là sai, không có căn cứ pháp luật.

Đối với nội dung yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Đàm Thị T: Việc ban hành Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường là sản phẩm của quy trình giải quyết khiếu nại đối với Đơn khiếu nại ngày 04/2/2020 của bà Đàm Thị Ti. Địa chỉ: số nhà 839, tổ 4, phường Quyết Tâm, Thành Phố Sơn La. Việc giải quyết khiếu nại đã được Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường thực hiện đúng quy định của pháp luật (Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20 tháng 10 năm 2016 của Thanh tra Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính).

Đối với nội dung buộc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin: Căn cứ Quyết định số 104/QĐ-STNMT ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường quy định: “Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường có chức năng thực hiện các hoạt động về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường thuộc phạm vi quản lỷ của Sở Tài nguyên và Môi trường; Thu thập, tích hợp, xử lý, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường phục vụ quản lý Nhà nước và cộng đồng; hỗ trợ phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý và theo phân cấp; tổ chức thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.” Như vậy, theo quy định nêu trên, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường không có chức năng cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100 (45-5).

Với những nội dung nêu trên, Giám đốc TTCNTT TNMT không nhất trí với các yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, ý kiến tranh luận của các đương sự như sau:

Bà Đàm Thị T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, hủy bỏ một phần của văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994; hủy bỏ quyết định số: 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị T trú tại số nhà 839, tổ 4 phường Quyết Tâm thành phổ Sơn La (lần đầu). Buộc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có trách nhiệm cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà T theo đúng quy định của pháp luật.

Giám đốc Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La: Giữ nguyên quan điểm như đã nêu trong văn bản nêu ý kiến và các văn bản, tài liệu khác đã nộp cho Tòa án, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị Tươi.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhận dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về tố tụng; các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định. Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhận định: Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến tranh luận của các đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị giải quyết vụ án theo hướng. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T.

Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho bà Đàm Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về phạm vi khởi kiện:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2020 bà Đàm Thị T yêu cầu Tòa án xem xét, hủy bỏ một phần của văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100(45-5) đo ngày 20/3/1994; hủy bỏ quyết định số: 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị T trú tại, số nhà 839, tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phổ Sơn La (lần đầu) và buộc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có trách nhiệm cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà T theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, bà T yêu cầu đồng thời 02 nội dung liên quan đến khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính.

Về đối tượng khởi kiện:

Xét Văn bản số 17/CNTT- DLLT ngày 31/01/2020 và Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 đều là các văn bản hành chính nhà nước, do Giám đốc Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La ban hành trong hoạt động giải quyết yêu cầu, đơn khiếu nại của công dân.

Nội dung của các văn bản nêu trên đều liên quan đến Tờ bản đồ F48-100(45-5) CHIENG COI đo vẽ ngày 20/3/1994; bà T khai thác tờ bản đồ này với mục đích để cung cấp tài liệu cho việc đề nghị giám đốc thẩm 02 bản án của Tòa án trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình bà Nguyễn Thị T; tuy nhiên, tờ bản đồ trên không có thông tin liên quan đến đất của bà T, đồng thời, theo Quyết định số 3201/QĐ-UBND ngày 18/12/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La (hiện đang có hiệu lực thi hành) thì tờ bản đồ nêu trên cũng không được sử dụng để cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, trong đó có gia đình bà T; bà T cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ chứng minh mối liên hệ giữa tờ bản đồ và quyền, lợi ích hợp pháp của bà. Như vậy, Tờ bản đồ F48-100(45-5) CHIENG COI đo vẽ ngày 20/3/1994 không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, hoặc chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của bà Đàm Thị T. Tuy nhiên, xét về quyền của công dân trong hoạt động yêu cầu cung cấp thông tin và trả lời đơn khiếu nại thì Văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 và Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của GĐ TTCN TNMT là quyết định hành chính bị kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện:

Bà T nhận được Văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 và Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020, đến ngày 04/4/2020 bà T khởi kiện 02 quyết định nêu trên. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, bà Tươi khởi kiện trong thời hạn quy định.

Về quyết định hành chính và hành vi hành chính bị kiện:

Ngày 06/01/2020 và ngày 10/01/2020 bà Đàm Thị T đã gửi 02 phiếu yêu cầu cung cấp thông tin về việc đề nghị cung cấp thông tin về tờ bản đồ gốc F48 - 100 (45-5) đo ngày 20/3/1994 đang được lưu trữ tại Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có đủ cơ sở pháp lý để sử dụng vào việc làm căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình có tên trong tờ bản đồ nêu trên hay không? Có được phép lưu hành hay không được phép lưu hành? Hiện nay có tờ bản đồ nào thay thế tờ bản đồ gốc F48 -100 (45-5) đo ngày 20/3/1994 hay chưa? Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận và xử lý Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định.

Sau khi nhận được 02 phiếu yêu cầu cung cấp thông tin nêu trên của bà Đàm Thị T, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu các văn bản liên quan, các quy định pháp luật hiện hành và ban hành văn bản số 09/CNTT-DLLT về việc đề nghị Phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Sơn La phối hợp để trả lời phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T.

Ngày 20/01/2020, Phòng Đất đai và Đo đạc bản đồ đã ban hành Công văn số: 22/ĐĐ& ĐĐBĐ về việc phối hợp trả lời phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của công dân Đàm Thị T. Trên cơ sở phối hợp cung cấp thông tin, theo chức năng, nhiệm vụ, ngày 31/01/2020, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số 17/CNTT-DLLT gửi bà Đàm Thị T về việc cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T.

Nội dung trả lời tại Công văn số 17/CNTT-DLLT của GĐ TTCNTT TNMT đã đảm đầy đủ, cụ thể, chi tiết theo phiếu yêu cầu của bà T; đồng thời thực hiện đúng theo quy định của Chính phủ về tiếp cận thông tin và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường được giao.

Tuy nhiên, bà T không nhất trí với nội dung Công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/1/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường; đồng thời, có đơn khiếu nại gửi Trung tâm với nội dung: Văn bản số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2019 do ông Nguyễn Minh T Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La ký trả lời về việc không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48 -100 (45-5) Chiềng Coi đo vẽ ngày 20/3/1994 đang được lưu trữ tại Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường và “Đề nghị bà nghiên cứu Công văn số 22/ĐĐ&ĐĐBĐ ngày 20/01/2020 của Phòng Đất đai và Đo Đạc Bản đồ về việc phối hợp trả lời Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của công dân Đàm Thị T gửi kèm là trái với quy định của Luật Tiếp cận thông tin, có dấu hiệu đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.

Sau khi xem xét nội dung đơn khiếu nại của bà Đàm Thị T, ngày 13/02/2020 Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đã ban hành Thông báo số 16/TB-CNTT về việc thụ lý giải quyết khiếu nại (lần đầu) với nội dung “đơn khiếu nại đủ điều kiện thụ lý và thuộc thẩm quyền giải quyết của Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường, thời gian thụ lý giải quyết kể từ ngày 13/02/2020”.

Căn cứ Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011; Thông tư số 07/2014/TTTTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và các văn bản có liên quan, ngày 14/02/2020 Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 06/QĐ-CNTT về việc xác minh nội dung khiếu nại (quyết định tiến hành xác minh nội dung khiếu nại, thành lập Tổ xác minh), cụ thể:

Ngày 20/02/2020 Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường nhận được Báo cáo số 01/BC-TXM của Tổ xác minh theo quyết định số 06/QĐ-CNTT và các văn bản gửi kèm (kế hoạch xác minh, biên bản xác minh), trong đó kết luận nội dung được giao xác minh như sau: “Việc bà Đàm Thị T cho rằng văn bản số: 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2019 về việc cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị Ti trái với quy định của Luật tiếp cận thông tin, có dấu hiệu đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là sai, không có căn cứ pháp luật để xem xét giải quyết, Công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường về việc cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của Bà Đàm Thị T là đúng quy định của pháp luật. Do đó việc bà Đàm Thị Ti, cư trú tại số nhà 439, tổ 4, phường Quyết Tâm, Thành Phố Sơn La khiếu nại Công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường về việc cung cấp thông tin theo Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T là khiếu nại sai”.

Ngày 09/3/2020, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức cuộc đối thoại giữa đại diện Trung tâm là bà Nguyễn Thị Thúy H - giám đốc - chủ trì, các thành viên Tổ xác minh và người khiếu nại là bà Đàm Thị T. Sau khi nghe kết quả xác minh, bà Đàm Thị T không nhất trí với kết quả xác minh, nhưng cũng không đưa ra được căn cứ pháp luật, hồ sơ, tài liệu nào để chứng minh cho nội dung đã khiếu nại.

Căn cứ kết quả đối thoại, ngày 12/3/2020 Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số: 12/QĐ-CNTT về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Đàm Thị T.

Xét thấy, việc ban hành Công văn số 17/CNTT- DLLT ngày 31/01/2020 và Quyết định số 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định về trách nhiệm của đơn vị đầu mối cung cấp thông tin tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 13/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính Phủ quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin: “Tiếp nhận, xử lý các yêu cầu cung cấp thông tin của công dân; chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xử lý yêu cầu cung cấp thông tin và thực hiện cung cấp thông tin cho công dân theo yêu cầu ”; nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo khoản 1 Điều 1 Quyết định số 104/QĐ-STNMT ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường quy định “Thực hiện các hoạt động về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường thuộc phạm vi quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường; Thu thập, tích hợp, xử lý, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường; phục vụ quản lý Nhà nước và cộng đồng; hỗ trợ phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý và theo phân cấp; tổ chức thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.”. Tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại của bà T theo quy định tại Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ và giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011.

Về kết quả giải quyết khiếu nại: Quyết định số 12/QĐ-CNTT khẳng định, Công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 được ban hành đúng quy định của pháp luật, việc bà Tươi cho rằng Trung tâm không cung cấp thông tin về tính pháp lý của tờ bản đồ F48-100 (45-5) là đùn đẩy, né tránh trách nhiệm là sai, không có căn cứ pháp luật; đo đó, khiếu nại của bà T là khiếu nại sai. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Công nghệ thông tin – Tài nguyên Môi trường thì việc Trung tâm chỉ cung cấp bản sao từ Tờ bản đồ F48-100 (45-5) gốc, mà không có thẩm quyền cung cấp thông tin pháp lý về tờ bản đồ theo phiếu yêu cầu của bà Đàm Thị Tươi là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Trung tâm CNTT TNMT vẫn phối hợp với Phòng Đất đai và Đo Đạc Bản đồ để ban hành Công văn số 22/ĐĐ&ĐĐBĐ cung cấp thông tin cho bà Đàm Thị T đã thể hiện trách nhiệm của đơn vị đối với yêu cầu của bà T.

Về yêu cầu Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La có trách nhiệm cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà T: Xét thấy, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường đã trả lời phiếu yêu cầu thông tin của bà T thông qua Công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020; trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình và trên cơ sở quy định của pháp luật, Trung tâm đã trả lời đầy đủ các câu hỏi trên phiếu của bà Đàm Thị T; ngoài ra bà T không có yêu cầu nào khác. Do đó, việc bà T yêu cầu Trung tâm tiếp tục trả lời phiếu yêu cầu thông tin của bà là không cần thiết.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên; xét thấy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T; về yêu cầu hủy một phần công văn số 17/CNTT-DLLT ngày 31/01/2020 của Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu cung cấp thông tin của bà Đàm Thị T; Và yêu cầu hủy Quyết định số: 12/QĐ-CNTT ngày 12/3/2020 của Trung tâm công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La về việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị T trú tại, số nhà 839, tổ 4, phường Quyết Tâm thành phố Sơn La (lần đầu).

Về án phí:

Bà Đàm Thị T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Tuy nhiên, bà T là thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của NQ326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 2; Điều 31 Luật Khiếu nại năm 2011; Khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 13/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin; khoản 1 Điều 1 Quyết định số 104/QĐ-STNMT ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La; Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính 2015; khoản 1 Điều 32, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội:

2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T.

3. Về án phí: Bà Đàm Thị T được miễn án phí hành chính sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2020).

Cỡ chữ