vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 34(Ba mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 21/01/2026. Giao bị cáo Phan Thanh H cho Uỷ ban nhân dân xã Đồng Tâm, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều 290 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – TUYÊN QUANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày 21 tháng 01 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Trung

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nông Thị Dần

2. Ông Lăng Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đánh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Lục Chí Cường, bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Phan Thanh H; Sinh ngày 12 tháng 5 năm 1990, tại xã Đ, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước công dân số 002090008xxx, cấp ngày 16/12/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an; Con ông Phan Văn Ng và bà Vì Thị L; Vợ: Lý Thị Nh; con: Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/09/2025 đến ngày 14/9/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Chị Lù Thị Kim T, sinh năm 1996; trú tại: Tổ dân phố 3, phường M, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 03/9/2025 bị cáo Phan Thanh H đi từ nhà tại thôn Bản Buốt, xã Đồng Tâm, tỉnh Tuyên Quang đến Trường THCS Tân Quang, tại xã Tân Quang, tỉnh Tuyên Quang để đón con đi học về. Khi đi đến khu vực thôn Mục Lạn, xã Tân Quang bị cáo nhìn thấy 01 chiếc điện thoại rơi ở trên đường đi, bị cáo nhặt chiếc điện thoại đút vào túi quần bên trái sau đó tiếp tục đi đến Trường THCS Tân Quang đón con và quay về nhà. Khi về đến nhà bị cáo kiểm tra chiếc điện thoại nhặt được, xác định được là điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 12 có mặt lưng màu hồng, được ốp bằng ốp nhựa trong suốt, bên trong ốp điện thoại có 2.000.000 đồng tiền mặt và một mảnh giấy có ghi hàng chữ và số “Tuyen111023@”. Bị cáo bật điện thoại này lên và nhập thông tin bằng hàng chữ và số trong thông tin mảnh giấy trong ốp điện thoại “Tuyen111023@” thì mở được điện thoại, sau đó bị cáo kiểm tra điện thoại có ứng dụng Internet Banking Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) trong điện thoại của Lù Thị Kim T có sẵn tên tài khoản đăng nhập là số 0329.092.658, Bị cáo nhập dãy chữ và số “Tuyen111023@” vào phần mật khẩu đăng nhập ứng dụng Internet Banking Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội nhưng thấy không đăng nhập được, thì bị cáo nhập lại mật khẩu bẳng dãy chữ và số “Tuyen111023” (bỏ chữ @) thấy đăng nhập thành công vào ứng dụng tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) của Lù Thị Kim T, Bị cáo H kiểm tra trong tài khoản 0329.092.658 có số tiền hơn 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). H thao tác chuyển số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) từ ứng dụng ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) của Lù Thị Kim T vào số tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H (Là tài khoản của bị cáo) mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam thấy ứng dụng số tài khoản 1990925183 trong điện thoại của bị cáo thông báo thay đổi số dư, bị cáo kiểm tra điện thoại của bị cáo và thấy chuyển thành công số tiền vào tài khoản 1990925183 nên bị cáo tiếp tục lần lượt thao tác chuyển tiền lần hai với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), lần ba chuyển số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), lần bốn chuyển số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đều chuyển vào tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Ngày 04/9/2025 bị cáo Phan Thanh H tiếp tục sử dụng điện thoại OPPO Reno 12 của Lù Thị Kim T, sử dụng mật khẩu “Tuyen111023@” mở khoá điện thoại và sử dụng mật khẩu “Tuyen111023” đăng nhập ứng dụng ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) của Lù Thị Kim T chuyển hai lần tiền vào số tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam. Trong đó lần một chuyển số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); Lần hai chuyển số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Ngày 05/9/2025 bị cáo Phan Thanh H tiếp tục sử dụng điện thoại OPPO Reno 12 của Lù Thị Kim T, sử dụng mật khẩu “Tuyen111023@” mở khoá điện thoại và sử dụng mật khẩu “Tuyen111023” đăng nhập ứng dụng ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) của Lù Thị Kim T để chuyển hai lần tiền vào số tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam trong đó, lần một chuyển số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); Lần hai chuyển số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Tổng số tiền từ ngày 03/9/2025 đến ngày 05/9/2025 Phan Thanh H đăng nhập ứng dụng ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội trên điện thoại OPPO Reno 12 để chuyển tiền từ số tài khoản 0329.092.658 của Lù Thị Kim T sang số tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam là 08 (tám) lần, với tổng số tiền là 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng).

Ngày 05/9/2025, Lù Thị Kim T đến ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội chi nhánh Tuyên Quang để kiểm tra tài khoản thì thấy số tiền trong tài khoản 0329.092.658 của mình mở tại ngân hàng ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội phát sinh 08 (tám) lần giao dịch đến tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam với tổng số tiền là 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng), 08 (tám) lần giao dịch đều không phải do T thực hiện. Do vậy, Tuyến đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang trình báo vụ việc.

* Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang thu giữ các vật chứng:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO Reno 12 của Lù Thị Kim T.

- 01 (một) tờ giấy có ghi dãy số “Tuyen111023@” do Phan Thanh H giao nộp.

- Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) do Phan Thanh H giao nộp.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung của Phan Thanh H đã qua sử dụng.

Ngày 18/10/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử lý vật chứng số D48/QĐ-CSHS ngày 18/10/2025 trả lại cho chủ sở hữu Lù Thị Kim T các tài sản gồm:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO Reno 12 của Lù Thị Kim T, đã qua sử dụng

- 01 (một) tờ giấy có ghi dãy số “Tuyen111023@” do Phan Thanh H giao nộp.

- Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) do Phan Thanh H giao nộp.

Vật chứng được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Tuyên Quang: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung của Phan Thanh H đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 03/CT-VKSKV5 ngày 24/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa

- Bị cáo Phan Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan điều tra thu thập được về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện cũng như các tài liệu, chứng cứ thu giữ được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng truy tố đã nêu. Đề nghị:

+ Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

+ Hình phạt: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thanh H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã Đồng Tâm, tỉnh Tuyên Quang giám sát giao dục đối với Phan Thanh H. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

+ Hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung của Phan Thanh H đã qua sử dụng.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viên Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo biết hành vi của bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, hưởng khoan hồng của pháp luật, xin HĐXX xem xét cho bị cáo được ở ngoài xã hội để chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vụ án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa: Người bị hại Lù Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy người bị hại trong hồ sơ vụ án có đầy đủ lời khai và quan điểm đề nghị giải quyết về tội danh, hình phạt, bồi thường trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và quá trình xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.

Về hành vi phạm tội, căn cứ định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Phan Thanh H đã khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 03/9/2025 tại khu vực thôn Mục Lan, xã Tân Quang, tỉnh Tuyên Quang bị cáo Phan Thanh H nhặt được chiếc điện thoại của bị hại Lù Thị Kim T loại điện thoại OPPO Reno 12 mặt lưng màu hồng, có ốp bên ngoài trong suốt, trong ốp điện thoại có 2.000.000 đồng và 01 mảnh giấy ghi dãy chữ và số “Tuyen111023@” bị cáo Hoàng sau khi nhặt được chiếc điện thoại này đã sử dụng dãy chữ và số “Tuyen111023@” để mở điện thoại của bị hại Tuyến sau đó đăng nhập vào ứng dụng Internet Banking ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB bank) có số tài khoản 0329.092.658 (tài khoản của bị hại Lù Thị Kim T) bằng mật khẩu “Tuyen111023” và kiểm tra tài khoản này có số tiền hơn 100.000.000 đồng, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trong tài khoản của bị hại Tuyến. Bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng cách chuyển số tiền trong tài khoản số 0329.092.658 của chị Lù Thị Kim T sang tài khoản của bị cáo là số tài khoản 1990925183 mang tên Phan Thanh H mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Ứng dụng Ngân hàng có số tài khoản 1990925183 cài đặt trong điện thoại Samsung của bị cáo) với số tiền chiếm đoạt là 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng). Cụ thể bị cáo chuyển khoản 08 lần từ ngày 03/9/2025 đến ngày 05/9/2025.

Ngày 03/9/2025 chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng

Lần 1: 2.000.000 đồng

Lần 2: 10.000.000 đồng

Lần 3: 5.000.000 đồng

Lần 4: 3.000.000 đồng

Ngày 04/9/2025 chuyển khoản số tiền 19.000.000 đồng

Lần 1: 10.000.000 đồng

Lần 2: 9.000.000 đồng

Ngày 05/9/2025 chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng

Lần 1: 10.000.000 đồng

Lần 2: 10.000.000 đồng

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tội tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phan Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định định tại điểm b, đ Điều 290 Bộ luật hình sự.

Điều 290 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

b) Phạm tội 02 lần trở lên.

.....

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Tuyên Quang truy tố bị cáo Phan Văn Hoàng về tội " sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh mạng và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51BLHS là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân của bị cáo Phan Thanh H chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội lần này bị cáo đều chấp hành tốt quy định pháp luật tại địa phương, có nơi cư trú ổn định. Bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết thuộc khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo, nên áp dụng khoản 1,2 Điều 65-BLHS năm 2015 đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 290 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ”, Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo, hiện nay bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt (59.000.000 đồng) cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì khác, do đó Hội dồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang thu giữ các vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO Reno 12 của Lù Thị Kim T; 01 (một) tờ giấy có ghi dãy số “Tuyen111023@” do Phan Thanh H giao nộp; Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) do Phan Thanh H giao nộp; 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung của Phan Thanh H đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử lý vật chứng số D48/QĐ-CSHS ngày 18/10/2025 trả lại cho chủ sở hữu Lù Thị Kim T các tài sản gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO của Lù Thị Kim T, 01 (một) tờ giấy có ghi dãy số “Tuyen111023@” do Phan Thanh H giao nộp; Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) do Phan Thanh H giao nộp. Xét việc xử lý vật chứng trên của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang là đúng quy định pháp luật.

Đối với vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S23 FE, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Thanh H là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước

Đối với hành vi của bị cáo Phan Thanh H nhặt được điện thoại OPPO Reno 12 và số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để trong ốp lưng điện thoại của Lù Thị Kim T nhưng không trả lại cho chủ sở hữu do bị cáo không biết ai là chủ sở hữu hợp pháp không cấu thành tội phạm, sau khi hành vi sử dụng sử dụng phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bị phát hiện bị cáo đã giao nộp điện thoại và 2.000.000 đồng cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang do đó không xem xét, xử lý.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 290; Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 34(Ba mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án 21/01/2026.

Giao bị cáo Phan Thanh H cho Uỷ ban nhân dân xã Đồng Tâm, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú cùng giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 bộ luật hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S23 FE, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo Phan Thanh H.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng như các biên bản giao vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Tuyên Quang ngày 25/11/2025.

- Án phí: Buộc bị cáo Phan Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ