vanban.org

Bản án 03/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phan Kim P.

[1] Về hôn nhân: Anh Phan Kim P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H. [2] Về con chung: Giao các con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan kim P + Nguyễn Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phan Kim P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST
Ngày 14/01/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Luân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường và ông Bùi Đức Dầu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45a/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 79/2025/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025.

- Nguyên đơn: Anh Phan Kim P, sinh năm 1991 – có đơn xin xét xử vắng mặt;

Địa chỉ cũ: Thôn C (xã Đ cũ), xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ mới: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994 – vắng mặt.

Địa chỉ cũ: Thôn C (xã Đ cũ), xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ mới: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Anh Phan Kim P và chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2013, tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ). Việc chung sống với nhau và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian chung sống cả hai có 05 con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/2022. Quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống chung không hạnh phúc, chị H thường xuyên bỏ nhà đi không có lý do, không quan tâm đến đời sống chung và xây dựng hạnh phúc gia đình. Giữa anh P và chị H đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Phan Kim P viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về hôn nhân: Anh Phan Kim P đề nghị được ly hôn chị Nguyễn Thị Thu H

Về con chung: Anh Phan Kim P có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H: Qua xác minh, chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C (xã Đ cũ), xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, nay là thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, chị H thỉnh thoảng đi về nhà và ít khi có mặt tại địa phương nên Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo theo quy định của pháp luật. Trong thời gian Tòa án triệu tập làm việc, chị H không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không có căn cứ ghi nhận ý kiến của chị H về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến các con chung của anh P, chị H: Tại các văn bản trình bày ý kiến của cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019 nếu cha, mẹ ly hôn thì nguyện vọng của các con chung là xin được ở với anh P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không chấp hành việc tham gia tố tụng tại phiên tòa theo quy định của BLTTDS.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị HĐXX:

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phan Kim P về việc ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H.

Về con chung: Đề nghị giao 05 con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/2022 cho anh Phan Kim P trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành.

- Về án phí: Đề nghị tuyên buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết qủa tranh tụng, Tòa án nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Ngày 23/9/2025 anh Phan Kim P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H và yêu cầu giải quyết con chung. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện cư trú tại thôn C (xã Đ cũ), xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, nay là thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng quy định tại Điều 35 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự để tham gia giải quyết vụ án và xét xử. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn không có mặt theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS.

Về hôn nhân: Anh Phan Kim P và chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2013, tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ) nay là UBND xã Đ. Khi kết hôn cả hai bên đều tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Vào thời điểm kết hôn, anh P và chị H đều đã đủ tuổi kết hôn. Vì vậy, căn cứ nguyên nhân ly hôn là do giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân với nhau. Xác minh trình trạng hôn nhân tại địa phương thể hiện: Hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. HĐXX xét thấy, hiện nay các bên đã không chung sống với nhau nên trình trạng hôn nhân đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh P là có căn cứ.

Xét quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị H là hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

. Về con chung: HĐXX xét thấy việc anh P có nguyện vọng xin được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 05 con chung phù hợp với lời trình bày của con chung và hoàn cảnh thực tế. Vì vậy, HĐXX cần giao con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/2022 cho anh Phan Kim P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

Các bên đương sự được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Trường hợp một trong các bên lạm dụng quyền thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Người không nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết

. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vự 8 – Lâm Đồng là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 170, Điều 173, Điều 174, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều BLTTDS năm 2025.

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phan Kim P.

[1] Về hôn nhân: Anh Phan Kim P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu H.

[2] Về con chung: Giao các con chung là cháu Phan Tuấn P1, sinh ngày 05/02/2015, cháu Phan Anh T, sinh ngày 19/9/2016, cháu Phan Anh M, sinh ngày 31/01/2019, cháu Phan Mỹ K, sinh ngày 16/6/2021, cháu Phan Gia B, sinh ngày 12/8/2022 cho anh Phan Kim P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phan Kim P không yêu cầu cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Thu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Về án phí: Anh Phan Kim P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003980 ngày 06 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Lâm Đồng (Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 8 – Lâm Đồng).

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ