vanban.org

Bản án 03/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với ông Đỗ Thanh T. Bà N được ly hôn với ông T. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà N và ông T có hai người con tên Đỗ Thanh T1, sinh ngày 29/12/2002 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết và Đỗ Hoàng Gia H, sinh ngày 10/10/2012. Khi ly hôn, bà N được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Hoàng Gia H, ghi nhận bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với ông Đỗ Thanh T. Bà N được ly hôn với ông T. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 01 - 2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bảy

2. Ông Bùi Văn Mưa Lớn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 258/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long.

Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2025, văn bản trình bày ý kiến ngày 29/12/2025, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 31 tháng 12 năm 2002, bà N và ông T có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian. Đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Ông T và bà N đã ly thân từ năm 2015 đến nay.

Nay bà N yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà N và ông T có hai người con tên Đỗ Thanh T1, sinh ngày 29/12/2002 hiện đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết và Đỗ Hoàng Gia H, sinh ngày 10/10/2012. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con tên Đỗ Hoàng Gia H, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con tên Đỗ Hoàng Gia H.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 29/12/2025, bà N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Phía bị đơn ông Đỗ Thanh T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy mời của Toà án và đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có phần trình bày của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông T. Bà N được ly hôn với ông T. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét.

Về con chung: bà Huỳnh Thị N được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Hoàng Gia H sinh ngày 10/10/2012, ghi nhận bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với người con chung tên Đỗ Thanh T1, sinh ngày 29/12/2002 hiện đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N.

Bị đơn ông Đỗ Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà N và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là xã N, tỉnh Vĩnh Long vào năm 2002. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà N cho rằng sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà N xác định đã không còn tình cảm với ông T nên xin được ly hôn với ông T. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “... Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà N và ông T đã có xảy ra mâu thuẫn, gia đình không còn hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn. Đối với ông T, từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua đó cũng thể hiện việc ông T không mong muốn được hòa giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà N và ông T có hai người con tên Đỗ Thanh T1, sinh ngày 29/12/2002 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết và Đỗ Hoàng Gia H, sinh ngày 10/10/2012. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con tên Đỗ Hoàng Gia H, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con tên Đỗ Hoàng Gia H.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T vắng mặt nên không có ý kiến về con chung tên Đỗ Hoàng Gia H. Trong khi bà N trình bày hiện nay bà N đang trực tiếp nuôi cháu H. Hơn nữa, cháu H có nguyện vọng sống cùng bà N. Điều này cũng phù hợp biên bản xác minh của Tòa án ngày 08/12/2025 tại địa phương thể hiện ông T hiện nay đi làm xa, bà N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Hoàng Gia H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần của con chung cần giao người con chung tên Đỗ Hoàng Gia H cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi người con chung tên Gia H.

Về tài sản chung: bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với ông Đỗ Thanh T. Bà N được ly hôn với ông T. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

2. Về con chung: bà N và ông T có hai người con tên Đỗ Thanh T1, sinh ngày 29/12/2002 hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết và Đỗ Hoàng Gia H, sinh ngày 10/10/2012. Khi ly hôn, bà N được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Hoàng Gia H, ghi nhận bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con tên Đỗ Hoàng Gia H.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: bà N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: bà N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009030 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà N đã nộp đủ án phí. 6. Về quyền kháng cáo: Bà N, ông T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ