- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa anh L và chị L1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn L:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tư pháp người; Luật Phá sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày 06-01-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Nguyễn Thị Lợi
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 43/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố R, phường B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: Tổ M, phường K, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú tại Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 01 tháng 10 năm 2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Hà Văn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017, anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách không hoà hợp. Năm 2020, chị L1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng chị L1 không nói cho anh L chị sống và làm việc ở đâu. Gia đình chị L1 cũng không cung cấp cho anh L thông tin nơi cư trú hiện nay của chị. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị L1.
- Về con chung: Anh L và chị L1 có 01 con chung là Hà Hải Đ, sinh ngày 10/6/2018. Anh đề nghị Tòa án giao cháu Hà Hải Đ cho anh trực tiếp nuôi vì chị L1 hiện đi xuất khẩu lao động, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu. Về cấp dưỡng nuôi con, anh và chị L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã làm việc với gia đình chị Nguyễn Thị L1. Gia đình chị L1 trình bày trước khi đi xuất khẩu lao động, chị L1 đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ M, phường K, thành phố Hải Phòng. Gia đình vẫn liên lạc qua mạng xã hội với chị nhưng không biết địa chỉ cụ thể của chị ở Đài Loan. Các văn bản tố tụng Toà án gửi đến gia đình đều thông báo cho chị biết và chị L1 có ý kiến đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh L.
* Tại phiên tòa:
Anh L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị L1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh L được ly hôn chị L1. Về con chung: Giao con Hà Hải Đ, sinh ngày 10/6/2018 cho anh L trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Anh L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn đăng ký thường trú tại phường Kiến An, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
[2] Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh L đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị L1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
[3] Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn giữa anh L và chị L1 qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện sau khi kết hôn năm 2017, anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách không hoà hợp. Năm 2020, chị L1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của anh L và chị L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về con chung:
[4] Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 có 01 con chung là Hà Hải Đ, sinh ngày 10/6/2018. Anh L đề nghị Tòa án giao cháu Hà Hải Đ cho anh trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh và chị L1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét, chị L1 hiện đi xuất khẩu lao động, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con; cháu Đ cũng có nguyện vọng muốn ở với bố. Vì vậy, yêu cầu của anh L phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
+ Về tài sản chung:
[5] Anh Hà Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
[6] Anh Hà Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn L:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn L được ly hôn chị Nguyễn Thị L1.
- Về con chung: Giao con Hà Hải Đ, sinh ngày 10/6/2018 cho anh Hà Văn L trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Anh Hà Văn L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003133 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Hà Văn L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn anh Hà Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn chị Nguyễn Thị L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - VKSND khu vực 5 - Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng; - UBND phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh (ĐKHK ngày 10/4/2017); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |