- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hứa Thị T - La Văn Q"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày: 26/01/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Quang Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngôn Thị Liêm.
Ông Hoàng Văn Dự.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tịch - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hứa Thị T, sinh năm 1992;
Nơi đăng ký thường trú: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh La Văn Q, sinh năm 1988;
Nơi đăng ký thường trú: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng (Hiện đang chấp hành án phạt tù tại P, Trại giam Xuân Nguyên - Cục C1 - Bộ C2; địa chỉ: xã V, thành phố Hải Phòng); vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2025 và các lời khai tiếp theo tại Tòa nguyên đơn Hứa Thị T trình bày: Chị và anh La Văn Q kết hôn ngày 26/4/2016, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Đ, tỉnh Cao Bằng). Sau kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, yêu thương chăm sóc nhau. Tuy nhiên đến khoảng năm 2018, sau khi tôi sinh con, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, không có tiếng nói chung. Năm 2022 anh Q bị xử phạt 05 năm tù về hành vi Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, hiện tại đang chấp hành án Trại giam X, thành phố Hải Phòng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Chúng tôi đã ly thân từ tháng 8/2022 đến nay. Chị T xác định không còn tình cảm với anh Q, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Quá trình chung sống hai vợ chồng có 01 con chung La Ngọc Diễm M (sinh ngày 07/4/2017). Hiện tại cháu đang ở với chị T. Sau khi ly hôn, chị Thương yêu C được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 05/12/2025, anh La Văn Q trình bày: Anh Q xác nhận các vấn đề về thời gian kết hôn, tình cảm vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn, con cái, tài sản chung, nợ chung như chị T trình bày là đúng. Hiện anh đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X, thành phố Hải Phòng, chị T yêu cầu ly hôn anh nhất trí. Về con chung, sau khi ly hôn chị T sẽ là người trực tiếp nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chung cháu La Ngọc Diễm M có ý kiến: Hiện tại cháu đang sống cùng mẹ và bà ngoại. Trường hợp bố, mẹ ly hôn cháu mong muốn được sống với mẹ vì bố đang chấp hành án phạt tù.
Tại phiên tòa:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thông qua tóm tắt nội dung vụ án và lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh chị Hứa Thị T được ly hôn với anh La Văn Q.
Về con chung: Giao cháu La Ngọc Diễm M (sinh ngày 07 tháng 4 năm 2017) cho chị Hứa Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến 18 tuổi. Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh La Văn Q. Vì quyền lợi của con, anh Q có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Hứa Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về thẩm quyền: Bị đơn La Văn Q có hộ khẩu thường trú và trước khi đi chấp hành án cư trú tại: Xóm L - L, xã Đ, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.
. Về tố tụng: Bị đơn La Văn Q đang chấp hành án tại Trại giam X, thành phố Hải Phòng nên không thể có mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy đã có lời khai trong hồ sơ và việc vắng mặt của bị đơn và nguyên đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Hứa Thị T và anh La Văn Q kết hôn vào ngày 26/4/2014, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Chị T và anh Q đủ điều kiện kết hôn và được đăng ký kết hôn đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Nguyên đơn cho rằng từ khi kết hôn, hai vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 01 đứa con chung. Đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Năm 2022, anh Q đã vi phạm pháp luật và phải chấp hành án phạt tù, từ đó làm cho tình cảm chị dành cho anh phai nhạt dần, hiện chị đã không còn tình cảm với anh Q.
Anh Q xác nhận nguyên nhân, tình trạng mâu thuẫn như chị T trình bầy là đúng, nay chị T yêu cầu ly hôn anh nhất trí.
Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai vợ chồng đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau vun đắp, xây dựng gia đình, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ nên cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
. Về con chung:
Sau khi ly hôn chị Thương yêu C được trực tiếp nuôi con chung; cháu La Ngọc D My có nguyện vọng được sống cùng mẹ; hiện tại anh Q đang trong thời gian chấp hành án tại Trại giam, không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần giao cháu La Ngọc Diễm M cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có bản án, quyết định khác của Tòa án thay thế. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì quyền lợi của con, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hứa Thị T được ly hôn với anh La Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu La Ngọc Diễm M (sinh ngày 07/4/2017) cho chị Hứa Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (hoặc đến khi có bản án, quyết định khác của Tòa án thay thế). Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh La Văn Q.
Sau khi ly hôn, anh Q có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi của con, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hứa Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị đã nộp đủ theo biên lai số 0000304 ngày 20/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 3 - Cao Bằng; - Phòng THADSKV 3 - Cao Bằng; - UBND xã Đình Phong; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Quang Toàn |