- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:03/2026/HNGĐ-ST Ngày 21/01/2026 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Phương Linh
2. Bà Võ Thị Đan Trinh
-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12
- Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay San – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 113/2025/TLST – HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-DS, ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Giang Thị M, sinh năm 1982
Địa chỉ: Buôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Buôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.
Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 14/10/2025, biên bản lấy lời khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Giang Thị M trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
- Về hôn nhân: Bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai (cũ) vào ngày 15/5/2005. Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, đôi khi có xảy ra những mâu thuẫn nhỏ nhưng vợ chồng bỏ qua cho nhau để cùng cố gắng lo cho con cái. Tuy nhiên từ đầu năm 2025 thì mâu thuẫn trở nên gay gắt, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không thấu hiểu, không quan tâm nhau, không có sự chia sẻ. Cuộc sống chung trở nên ngột ngạt và không có hạnh phúc. Bà M cảm thấy có tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc mà chỉ làm cho nhau thêm mệt mỏi. Do đó, bà M đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Xuân H.
-Về con chung: Bà M và ông H có 02 con chung là Lê Duy K, sinh ngày 24/6/2005 và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 11/11/2011. Nguyện vọng của bà M là được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Lê Thị Thanh T.
Con chung Lê Duy K đã thành niên nên không có yêu cầu.
-Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu
-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn ông Lê Xuân H trình bày quan điểm như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là từ năm 2018 đến nay bà Giang Thị M có quan hệ với người đàn ông khác. Ông cũng đã khuyên bảo nhiều lần, bản thân ông vẫn còn tình cảm với bà M nên mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Nhưng nếu như bà M vẫn cương quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý. Về con chung: ông H đồng ý giao con chung chưa thành niên cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: ông H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: ông H không yêu cầu giải quyết.
3. Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên toà Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án; đương sự cũng có thái độ chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật tố tụng.
Nội dung vụ án thì Kiểm sát viên có quan điểm: Áp dụng Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của BLTTDS; các Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Giang Thị M được ly hôn với ông Lê Xuân H trước pháp luật.
- Về con: Bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H có 02 con chung là Lê Duy K, sinh ngày 24/6/2005 và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 11/11/2011. Nguyện vọng của bà M là được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Lê Thị Thanh T. Con chung Lê Duy K đã thành niên nên không có yêu cầu. Đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu.
-Về án phí : Căn cứ khoản 4, Điều 147 BLTTDS năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Giang Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có nơi cư trú tại xã I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Xuân H, như thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông H không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Ở giai đoạn xét xử vụ án, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông H vẫn vắng mặt và bà M vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. HĐXX chỉ căn cứ vào kết quả của việc xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để quyết định. Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã C, tỉnh Gia Lai (cũ) vào ngày 25/5/2005. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không cùng chung chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Ngày 11/11/2025, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của các đương sự thì được biết cuộc sống chung của bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H xảy ra mâu thuẫn, ông H thường xuyên uống rượu, chửi bới vợ con, sống thiếu tôn trọng lẫn nhau.
Từ lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được cho thấy tình trạng hôn nhân của bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H đã mâu thuẫn mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, quý trọng, giúp đỡ nhau và không cùng chí hướng xây dựng hạnh phúc gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà Giang Thị M là chính đáng và có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Giang Thị M, xử cho bà Giang Thị M được ly hôn với ông Lê Xuân H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H có 02 con chung là Lê Duy K, sinh ngày 24/6/2005 và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 11/11/2011. Nguyện vọng của bà M là được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Lê Thị Thanh T. Con chung Lê Duy K đã thành niên nên không có yêu cầu. Đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu.
[7] Về án phí: Bà Giang Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Giang Thị M được ly hôn với ông Lê Xuân H.
- Về con: Bà Giang Thị M và ông Lê Xuân H có 02 con chung là Lê Duy K, sinh ngày 24/6/2005 và Lê Thị Thanh T, sinh ngày 11/11/2011.
Giao con chung chưa thành niên Lê Thị Thanh T cho bà M là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Con chung Lê Duy K đã thành niên và tự lập được nên các đương sự không có yêu cầu.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn các bên được quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu các bên lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
- Về tài sản và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-Về án phí: Bà Giang Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003623 ngày 16/10/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Gia Lai. Bà Giang Thị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV TAND T.Gia Lai; - VKSND khu vực 12; - THADS T.Gia Lai; - UBND xã Ia Rsai, Gia Lai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |