vanban.org

Bản án 03/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Kim Q. Bà Q được ly hôn với ông Trịnh Dương Ngọc H.

Về con chung: Giao con chung tên Trịnh Gia H1, sinh ngày 26/10/2024 cho bà Phạm Kim Q nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Kim Q - Trịnh Dương Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Kim Q. Bà Q được ly hôn với ông Trịnh Dương Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 01 năm 2026
V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Mỹ Phúc

2. Ông Trần Quang Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2025, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Phạm Kim Q, sinh ngày 06/9/2004; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ số C, đường P, phường P, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

* Bị đơn: Trịnh Dương Ngọc H, sinh ngày 18/12/1999; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ số E, khóm T, phường L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/10/2025 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Phạm Kim Q trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian bà và ông Trịnh Dương Ngọc H tiến tới hôn nhân, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào tháng 03/2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V (nay là phường L), tỉnh Vĩnh Long vào ngày 17/6/2024. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, ông H thường xuyên ăn chơi, không lo kinh tế cho gia đình; sự việc đã được gia đình hai bên hàn gắn nhưng không thành, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2025 đến nay, cuộc sống của ai người đó sống, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Dương Ngọc H. Về con chung, có 01 con chung tên Trịnh Gia H1, sinh ngày 26/10/2024; sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và về nợ chung, bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Trịnh Dương Ngọc H không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q và vắng mặt trong quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Kim Q khởi kiện ông Trịnh Dương Ngọc H có địa chỉ tại phường L, tỉnh Vĩnh Long để yêu cầu xin ly hôn và nuôi con; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con”, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Bị đơn Trịnh Dương Ngọc H (là bị đơn không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim Q, Hội đồng xét xử thấy: Bà Q và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V (nay là phường L), tỉnh Vĩnh Long vào ngày 17/6/2024, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2025 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông H biết việc bà Q xin ly hôn nhưng ông H không có ý kiến phản đối, bỏ mặt bà Q đơn phương ly hôn. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Q và ông H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà Q yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Bà Q, ông H chung sống có 01 con chung tên Trịnh Gia H1, sinh ngày 26/10/2024, hiện nay cháu H1 đang sống với bà Q. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay bà Q là người trực tiếp nuôi dưỡng con; riêng ông H trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo cho ông H biết việc bà Q yêu cầu được nuôi con nhưng ông không có ý kiến phản đối. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu H1, nên giao cháu H1 cho bà Q nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con, bà Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Kim Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Phạm Kim Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Kim Q. Bà Q được ly hôn với ông Trịnh Dương Ngọc H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trịnh Gia H1, sinh ngày 26/10/2024 cho bà Phạm Kim Q nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Kim Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Buộc bà Phạm Kim Q chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008275, ngày 04/11/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà Q không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ