vanban.org

Bản án 03/2026/DSST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H.

Buộc ông Lã Văn Cẩm có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng H 03 (ba) tấn cà phê nhân. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Hồng H tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản với Lã Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/DSST
Ngày 05 tháng 02 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hối.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Dũng.

2. Bà Trần Thị Thúy.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đắk Lắk tham gia phiên toà : Bà Vi Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 /02 /2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐST-DS ngày 19/01/2026 . Giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn 1, xã E, tỉnh Đắk Lắk(vắng mặt).

- Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân K – Sinh năm 1986.

Địa chỉ: 122 Phạm Ngũ Lão, Phường B, tỉnh Đắk Lắk.(có mặt).

- Bị đơn: Ông Lã Văn C – Sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn 1, xã E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 / 9/2025 của bà Nguyễn Thị Hồng H và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng H và người được nguyên đơn ủy quyền ông Nguyễn Xuân K trình bày:

Ngày 25/8/2024 bà Nguyễn Thị Hồng H có cho ông Lã Văn C hợp đồng chốt cà phê 03 tấn (3.000 kg) với số tiền 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng), bà H đã giao đủ tiền cho ông C. Thời hạn ông C cam kết giao cà phê là ngày 28/2/2025.

Quá hạn trên ông C không giao cà phê cho bà H.

Nay bà H khởi kiện đề nghị tòa án buộc ông C trả cho bà H 03 tấn cà phê nhân trị giá khoảng 393.000.000 đồng (ba trăm chín mươi ba triệu đồng).

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị buộc ông Lã Văn C phải trả 03 tấn cà phê nhân trị giá tại thời điểm xét xử là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Đối với bị đơn: ông Lã Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày:

Ông C thừa nhận vào ngày 25/8/2024 ông có hợp đồng chốt cà phê chốt cà phê với bà Nguyễn Thị Hồng H, số lượng 03 tấn (3.000 kg), hẹn đến 28/2/2025 ông Cẩm giao đủ cho bà H. Tuy nhiên do ông C gặp khó khăn nên chưa giao được cà phê cho bà H.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông trả số cà phê trên, ông đề nghị Tòa án căn cứ theo các chứng cứ và tài liệu do nguyên đơn cung cấp xét xử theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy TAND khu vực 2-Đắk Lắk không tiến hành hòa giải được

Tại phiên tòa hôm nay, do bị đơn vẫn vắng mặt, vì vậy theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đắk Lắk đem vụ kiện ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thư Ký Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt, nhưng Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã làm các thủ tục cần thiết theo quy định, vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án:

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35 Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 186 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, 433, 434, 436 Bộ luật dân sự.

Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H.

Buộc ông Lã Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hồng H 03 tấn cà phê nhân trị giá tại thời điểm xét xử là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Trường hợp ông Lã Văn C không trả được bằng cà phê thì phải thanh toán 300.000.000 đồng ( ba trăm triệu đồng) theo giá cà phê tại thời điểm xét xử.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu ông Lã Văn C phải trả cho bà 03 tấn cà phê nhân, đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Thôn 1, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 2- Đắk Lắk.

Về sự có mặt của đương sự: Ông Lã Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt.

Theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 2- Đắk Lắk đem vụ kiện ra xét xử khi vắng mặt bị đơn

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Hồng H khởi kiện yêu cầu ông Lã Văn C trả 03 tấn cà phê nhân.

Nhận thấy rằng ông Lã Văn C có ký hợp đồng với bà Nguyễn Thị Hồng H chốt 03 tấn cà phê nhân, hạn giao cà phê vào ngày 28/02/2025, quá hạn ông C không giao cà phê cho bà H, đã vi phạm hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.

Như vậy đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H và buộc bị đơn ông Lã Văn C phải giao cho bà Nguyễn Thị Hồng H 03 tấn cà phê nhân trị giá 300.000.000 đồng tại thời điểm xét xử.

Về án phí và chi phí tố tụng: Vì yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H được chấp nhận nên bị đơn ông Lã Văn C phải chịu án phí DSST là: 300.000.000 đồng x 5%= 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Bà Nguyễn Thị Hồng H không phải chịu án phí DSST.Trả lại số tiền 9.850..000 đồng (chín triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) mà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự huyện tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: 0001856 ngày 08/10/2025.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 147,186, 227, khoản 1 Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 430, 433, 434, 436 Bộ luật dân sự;

Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H.

1.Buộc ông Lã Văn Cẩm có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng H 03 (ba) tấn cà phê nhân.

2.Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị đơn ông Lã Văn C phải chịu 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Trả lại số tiền 9.850..000 đồng (chín triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) mà nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự huyện tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: 0001856 ngày 08/10/2025.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Đắk Lắk;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 2- Đắk Lắk;

- Các đương sự

- Phòng THADS khu vực 2- Đắk Lắk;

(đã ký)

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Trọng Hối THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA

Nguyễn Trọng Hối Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Đắk Lắk;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 2- Đắk Lắk;

- Các đương sự

- Phòng THADS khu vực 2- Đắk Lắk;

- Lưu: HS, VT.

Nguyễn Trọng Hối THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA

Nguyễn Trọng Hối

Cỡ chữ