- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngan hang - HTX HA"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/KDTM - ST Ngày 19 - 9 - 2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
“NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – PHÚ THỌ”
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Vị
Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 06/2025/TLST - KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST - KDTM ngày 08 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (VP Bank). Địa chỉ: số 89, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý. Theo văn bản ủy quyền số: 38a/2024/UQN - CTQT ngày 01/6/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V; Người được ủy quyền lại: Ông Ma Quang M, ông Nguyễn Tùng D, ông Lê Văn H; cán bộ xử lý nợ; Địa chỉ: Tầng 17, tháp C,
số 219 Tr, phường Y, thành phố Hà Nội; Theo văn bản ủy quyền số 10/2025/UQN-VPB ngày 20/3/2025. (ông D có mặt)
- Bị đơn: Hợp tác xã sản xuất, thương mại và dịch vụ vật liệu xây dựng Hoàng A; Địa chỉ trụ sở: Thôn Ph, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là Thôn Ph, xã S, tỉnh Phú Thọ; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc; (vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ dân phố Phố L, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nay là: Thôn phố L, xã Y, tỉnh Tuyên Quang;(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Tùng D là đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Hợp tác xã sản xuất, thương mại, dịch vụ vật liệu xây dựng H (sau đây gọi là HTX H) do ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật có ký 01 Hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023 với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V (sau đây gọi là VPBank) để vay tổng số tiền: 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là: 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại: MCMNLD13K7M, BKS: 88A-553.39, số khung:MMLA36U61NG038077, số máy:15S4C5QTNA220042, được xác lập theo hợp đồng thế chấp số VPC/23001/HDTC ngày 06/01/2023.
Ngày 06/01/2023 VP Bank và ông Nguyễn Văn T ký hợp đồng bảo lãnh số VPC/3001/HDBL. Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả nợ thay toàn bộ các khoản nợ của HTX H tại VP Bank nếu HTX H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho VP Bank.
Quá trình thực hiện hợp đồng VP Bank đã giải ngân cho HTX H số tiền 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng). HTX Hoàng A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với VP Bank nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 15/10/2024.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 19/9/2025, HTX H còn nợ VP Bank tổng số tiền là: 333.797.818 đồng (ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười tám đồng); trong đó nợ gốc là 286.997.900 đồng và nợ lãi trong hạn là 471.781 đồng, lãi quá hạn là 46.328.136 đồng.
Quá trình xử lý khoản vay, VPBank đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu HTX H thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho VPBank tuy nhiên HTX H không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng.
Nay VP Bank đề nghị Toà án giải quyết các nội dung sau:
1.Buộc HTX H phải thanh toán cho VP Bank tổng số tiền còn nợ theo hợp đồng cho vay tính đến ngày 19/9/2025 là 333.797.818 đồng (ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn tám trăm mười tám đồng); trong đó nợ gốc là 286.997.900 đồng và nợ lãi trong hạn là 471.781 đồng, lãi quá hạn là 46.328.136 đồng.
2.Đề nghị HTX H tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 20/9/2025 theo đúng thoả thuận trong Hợp đồng cho vay cho đến ngày HTX H thực tế thanh toán hết nợ.
3.Trường hợp HTX H không trả nợ đầy đủ cho VP Bank thì VP Bank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại: MCMNLD13K7M, BKS: 88A-553.39, số khung:MMLA36U61NG038077, số máy:15S4C5QTNA220042, được xác lập theo hợp đồng thế chấp số VPC/23001/HDTC ngày 06/01/2023 để thu hồi khoản nợ.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, VP Bank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản của bên bảo lãnh ông Nguyễn Văn T để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VP Bank cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh ông T có mặt tại nơi cư trú, đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không giao nộp cho Tòa án các văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tại phiên tòa sơ thẩm: Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 280, 317, 318, 319, 320, 321, 463, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VP Bank. Buộc HTX H phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ tính đến ngày 19/9/2025 là 333.797.818 đồng. Kể từ ngày 20/9/2025 HTX H phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp HTX H không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay là: 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại: MCMNLD13K7M, BKS: 88A-553.39, số khung:MMLA36U61NG038077, số máy:15S4C5QTNA220042, được xác lập theo hợp đồng thế chấp số VPC/23001/HDTC ngày 06/01/2023. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản đảm bảo không đủ để trả toàn bộ nợ cho Ngân hàng, thì ông T có trách nhiệm trả nợ cho VP Bank thay cho HTX H. Về án phí: HTX H phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả án phí cho Ngân hàng VP Bank.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy ông T đã vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa ông Tvắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: VP Bank có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc HTX H phải trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng cho vay ngày 06/01/2023. HTX H có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh loại hình vận tải và mục đích mua xe để phục vụ việc kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường bộ. Do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại thời điểm khởi kiện và thụ lý vụ án bị đơn đăng ký địa chỉ tại thôn Ph, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, Nay là: Thôn Ph, xã S, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ).
Hiệu lực của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp:
Về hợp đồng tín dụng:
Xét Hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023. Ngân hàng đã cung cấp các tài liệu thể hiện việc ký kết, nội dung các thỏa thuận trong hợp đồng nêu trên, quá trình thực hiện hợp đồng, vi phạm hợp đồng tín dụng của Hợp tác xã H.
Ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã H không trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng VP bank và Hợp tác xã H đầy đủ tư cách pháp nhân. Khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Các điều khoản thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó các hợp đồng là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Do hợp đồng tín dụng là hợp pháp, phù hợp với pháp luật nên các nội dung thỏa thuậ trong hợp đồng được pháp luật thừa nhận và có hiệu lực giữa các bên tham gia ký kết, bao gồm các thỏa thuận về lãi suất, lãi suất quá hạn. Theo bảng kê chi tiết nợ gốc, các quyết định điều chỉnh lãi suất do nguyên đơn cung cấp và yêu cầu phía bị đơn trả nợ, qua xem xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc HTX H phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ khoản nợ theo hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023. Tính đến ngày 19/9/2025 là 333.797.818 đồng (trong đó nợ gốc là 286.997.900 đồng và nợ lãi trong hạn là 471.781 đồng, lãi quá hạn là 46.328.136 đồng). HTX H phải tiếp tục chịu lãi theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay trên dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng kể từ ngày 20/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng.
Về hiệu lực hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo khoản vay trên bị đơn đã thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản số VPC/23001/HDTC ngày 06/01/2023. Cụ thể: 01 xe ô nhãn hiệu: MG; BKS: 88A-553.39. Loại xe: ô tô 05 chỗ; màu sơn: trắng. Số khung: MMLA36U61NG038077; số máy: 15S4C5QTNA220042; đã Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên HTX SX TMDV VLXD H.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nêu trên nhưng không thẩm định được vì ông T không cung cấp cho Tòa án thông tin về tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng hiện đang ở đâu. Theo kết quả Tòa án thu thập được tại Cơ quan có thẩm quyền quản lý đăng ký biến động đối với xe ô tô xác định xe ô tô trên vẫn đăng ký tên Hợp tác xã H và không có biến động gì khác.
Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật. Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô trên để thu hồi nợ, trong trường hợp HTX H không trả được nợ.
Xét thấy hợp đồng thế chấp này được lập thành văn bản, đã được công chứng theo quy định, các chủ thể tham gia ký hợp đồng thế chấp có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện về nội dung và hình thức đều hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 06/01/2023 Hợp tác xã sản xuất, thương mại và dịch vụ vật liệu xây dựng H (Sau đây gọi là HTX H) do ông Nguyễn Văn T (là người đại diện theo pháp luật) vay vốn tại VPBank với tổng số tiền là: 460,000,000 (bốn trăm sáu mươi triệu đồng); Hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023; thời hạn cho vay: 60 tháng; với mục đích mua xe kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường bộ, lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng 12,5%/năm áp dụng cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần; biên độ (+4%)
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng VP bank với HTX H phù hợp cả nội dung và hình thức, do đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định. Quá trình thực hiện hợp đồng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải ngân số tiền như đã thỏa thuận cho HTX H.
Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc việc trả nợ, hai bên đã nhiều lần thương lượng, nhưng không thành. Lỗi là do HTX H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng không đúng với cam kết thỏa thuận trong hợp đồng.
Về lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. "2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Do đó, lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số VPC/23001 ngày 06/01/2023 là phù hợp quy định pháp luật.
Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quan hệ tín dụng phát sinh trong vụ án này là tranh chấp khoản vay nợ có tài sản bảo đảm. Theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng thế chấp và các quy định về giao dịch bảo đảm thì trong trường hợp bị đơn không trả được nợ, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bị đơn, vì vậy yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngày 06/01/2023 ông Nguyễn Văn T ký hợp đồng bảo lãnh với Ngân hàng VP bank để bảo lãnh cho khoản vay của HTX H. Bên bảo lãnh ông Nguyễn Văn T cam kết bằng toàn bộ tài sản, uy tín và trách nhiệm đồng ý bảo lãnh cho bên được bảo lãnh (HTX H) trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi ...của bên được bảo lãnh đối với Ngân hàng phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Do vậy trong trường hợp HTX H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho VP Bank thì ông Toàn có nghĩa vụ trả nợ thay toàn bộ khoản nợ của HTX H tại VP Bank là phù hợp với quy định pháp luật.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn HTX H do người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Văn phải chịu tương ứng với số tiền phải trả là 333.797.818 đồng x 5% = 16.689.890 đồng (mười sáu triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng, đã làm tròn).
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 117, 280, 299,303,317,318,319,320,321,322,323,325,401của Bộ luật dân sự; Các Điều 30, 35, 39, 227, 228, 273, Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V.
Buộc HTX H và ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền tính đến hết ngày 19/9/2025 là 333.797.918 đồng (ba trăm ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn chín trăm mười tám đồng) trong đó nợ gốc là 286.997.900 đồng, nợ lãi trong hạn: 471.781 đồng, nợ lãi quá hạn là 46.328.196 đồng.
Kể từ ngày 20/9/2025 HTX H và ông T còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2.Về xử lý tài sản thế chấp: Nếu HTX H không thanh toán trả đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự huyện Sông Lô xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để đảm bảo thi hành án. Tài sản thế chấp gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại MCMNLD13K7M, BKS: 88A-553.39, số khung: MMLA36U61NG038077, số máy: 15S4C5QTNA220042. Xác lập theo Hợp đồng thế chấp số VPC/23001/HDTC ngày 06/01/2023.
Trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ để thanh toán khoản nợ, ông Toàn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
3.Về án phí: HTX H phải chịu 16.689.890 đồng (mười sáu triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng, đã làm tròn) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) theo biên lai thu tiền số: 0001278 ngày 08/5/2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Phú Thọ.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 11 - Phú Thọ; - Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; -VKSND Tỉnh Phú Thọ; - TAND Tỉnh Phú Thọ - Các đương sự; - Lưu HSVA; Văn phòng. Thành viên Hội đồng xét xử | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khương Đặng Khánh Hằng Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà Khương Đặng Khánh Hằng |