vanban.org

Bản án 03/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên: Trả lại cho Phạm Xuân H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen trắng, biển kiểm soát 92C1- 285.xx; nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HSST
Ngày 21/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Viết Phúc .

- Ông Nguyễn Như Thương .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Phạm Xuân H, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1970 tại H, tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: tổ 12, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ điện nước; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Xuân E (chết) và bà Dương Thị Đ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Hồ Thị B, sinh năm: 1986

Trú tại: Số 44 đường 28/3, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, chị Hồ Thị B đến Công an phường T, thành phố H trình báo về việc vào chiều ngày 31/10/2024, chị B phát hiện bị mất 01 (một) con heo đất màu vàng được cất trong 01 (một) bao ni lông màu đen để dưới gầm giường trong phòng ngủ, bên trong con heo đất có số tiền tiết kiệm khoảng 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).

Qua điều tra xác định: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, Phạm Xuân H mặc áo mưa màu vàng, đội mũ bảo hiểm màu xanh, mang đôi dép nhựa màu đen và điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen trắng, BKS: 92C1-285.xx đến nhà chị Hồ Thị B để lấy dụng cụ, đồ nghề mà trước đó H sửa chữa điện nước cho nhà chị B nhưng chưa mang về. Khi đến nơi, H thấy cổng nhà chị B đang mở nên H dựng xe trước cổng rồi xuống xe đi bộ vào nhà. H đi đến trước cửa phòng ngủ và gõ cửa phòng gọi chị B nhưng không thấy chị B trả lời nên H biết chị B không có trong phòng. Lúc này, H nhớ lại dưới gầm giường chị B có con heo đất nên nảy sinh ý định trộm cắp. Vì cửa phòng không khoá, H dùng tay mở cửa phòng bước vào, đi đến chỗ giường ngủ chị B và cúi xuống, dùng tay trái lấy bao ni lông màu đen, bên trong có con heo đất rồi đi ra khỏi phòng khép cửa lại. Sau đó, H điều khiển xe môtô chạy về hướng xã C, thành phố H. Đến đoạn đường còn cách cầu bà Ngân khoảng 10 mét, H rẻ vào bãi đất trống gần đó lấy bao ni lông có chứa con heo đất ra đập xuống đất cho bể rồi mở miệng bao lấy toàn bộ số tiền bỏ vào túi quần còn bao ni lông, mảnh vỡ của heo đất thì để lại tại bãi đất trống. Về đến nhà, H lấy tiền ra kiểm tra thì tổng số tiền trộm cắp được là 6.700.000 đồng (gồm 11 tờ 500.000 đồng, 05 tờ 200.000 đồng, 02 tờ 100.000 đồng). Ngày 01/11/2024, Công an phường T mời H đến trụ sở để làm việc và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; đồng thời, H giao nộp cho cơ quan chức năng số tiền 6.800.000 đồng, trong đó: 5.800.000đồng là số tiền H trộm cắp được còn lại sau khi tiêu xài cá nhân và 1.000.000 đồng là số tiền của cá nhân H; 01 (một) ví da, đã qua sử dụng và 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen trắng, BKS: 92C1-285.xx đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, chị B khai nhận lời khai trước đó của chị tại Công an phường T về số tiền tiết kiệm trong con heo đất có khoảng 22.000.000 đồng là không đúng do chị nhớ nhầm. Chị B không nhớ chính xác tổng số tiền có trong con heo đất bị H trộm cắp, chỉ nhớ có khoảng 7.000.000 đồng nên chị B đồng ý với lời khai nhận của H về số tiền có trong con heo đất bị trộm cắp là 6.700.000 đồng. Đồng thời, chị B xác nhận các mảnh vỡ của con heo đất mà H trộm cắp trước đó đúng với đặc điểm con heo đất mà chị B bị mất.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 90/KL-ĐGTS ngày 27/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố H kết luận: giá trị tài sản đối với con heo đất trong vụ trộm cắp tài sản nêu trên là 0 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 05/2024/CT-VKSHA-HS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Xuân H từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Phạm Xuân H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 92C1- 285.xx; nhưng cần tiếp tục quy trữ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để đảm bảo thi hành án. Tuyên tiêu huỷ 01 (Một) bao ni lông màu đen, bên trong có các mảnh vỡ con heo đất màu vàng; 01 (Một) ví da; 01 (Một) áo mưa cánh dơi màu vàng nhạt; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh; 01 (Một) đôi dép nhựa màu đen – xám.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận xong, bị hại bà Hồ Thị B không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Xuân H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Xuân H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, tại nhà chị Hồ Thị B, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chị B bị cáo lén lút trộm cắp 01 (một) con heo đất, bên trong con heo đất có số tiền 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy trăm nghìn đồng). Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Xuân H đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên do lòng tham nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Xuân H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đảm bảo được việc răn đe, giáo dục để bị cáo trở thành người tốt, như đề nghị của Kiểm sát viên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu và tiêu hủy; 01 (Một) bao ni lông màu đen, bên trong có các mảnh vỡ con heo đất màu vàng; 01 (Một) ví da; 01 (Một) áo mưa cánh dơi màu vàng nhạt; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh; 01 (Một) đôi dép nhựa màu đen – xám các tài sản trên không còn giá trị sử dụng.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen trắng, biển kiểm soát 92C1- 285.xx đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để đảm bảo việc thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận:

Về án phí: Bị cáo Phạm Xuân H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 55, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 ( mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/01/2025). Giao bị cáo Phạm Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

Trả lại cho Phạm Xuân H số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen trắng, biển kiểm soát 92C1- 285.xx; nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để đảm bảo việc thi hành án.

Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) bao ni lông màu đen, bên trong có các mảnh vỡ con heo đất màu vàng; 01 (Một) ví da; 01 (Một) áo mưa cánh dơi màu vàng nhạt; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh; 01 (Một) đôi dép nhựa màu đen – xám.

(Các vật chứng trên hiện được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2024. Đối với vật chứng là tiền đang nộp vào tài khoản tạm giữ số 394909043934.00000 của Công an thành phố H theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 27/11/2024).

Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Xuân H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/01/2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ