vanban.org

Bản án 03/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Lý Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án thẩm. Giao bị cáo Lý Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N’Đir, huyện K, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Toàn phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 23/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Thông, ông Nguyễn Tiến Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS, ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn Q, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không.

Con ông Lý Văn P, sinh năm 1971 và con bà Bàn Thị N, sinh năm 1974, cùng trú tại thôn Q, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo có vợ là Đặng Mùi S, sinh năm 1995 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/12/2024. Đến ngày 18/12/2024 được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lý Thị S1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Q, xã N'Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ vào dịp tết Nguyên đán năm 2025 nên Lý Văn T sử dụng điện thoại di động Vivo 1906 màu xanh, gắn sim số 0965.002.263 liên hệ với tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Ba Phong” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 07 bệ pháo hoa nổ loại 49 ống với giá 6.000.000 đồng thì đối tượng này đồng ý và hẹn ngày 12/12/2024 sẽ giao, nhận pháo tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 16 giờ ngày 12/12/2024, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 48C1 - 342.08 (xe mượn của bà Lý Thị S1, sinh năm 1978, trú cùng thôn) đến khu vực thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để nhận 07 hộp pháo hoa nổ và giao cho đối tượng trên 6.000.000 đồng. Sau khi nhận pháo, Lý Văn T bỏ 07 hộp pháo hoa nổ (được đựng trong 01 bao tải nhãn hiệu Red Star và 01 bao ni-lông) lên xe mô tô biển số 48C1 - 342.08 rồi ra về. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật (được niêm phong theo quy định của pháp luật). Tại Cơ quan điều tra, Lý Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định số 560/KL-KTHS, ngày 16/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 07 khối hình hộp chữ nhật, có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối đều có 49 ống hình trụ tròn được niêm phong trong thùng giấy catton gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 11,7040 kilôgam.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS(ĐM), ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố về tội “Tàng trữ hàng cấm” là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu, tiêu huỷ 01 bao tải màu trắng nhãn hiệu Red Star; 01 bao ni-lông trong suốt và sim số 0965.002.263 do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo 1906 màu xanh, số Imei 1 là 861325043026417, số Imei 2 là 861325043026409 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, biển số 48C1 - 342.08 cho bà Lý Thị S1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiêu hủy 07 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 10,0015 kilôgam, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

- Về trách nhiệm dân sự: Không.

Đối với bà Lý Thị S1 do không biết bị cáo sử dụng xe ô tô của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng sử dụng mạng xã hội Facebook tên “Ba Phong” đã bán pháo nổ (pháo hoa nổ) cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn T đã khai nhận: Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 12/12/2024, tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt quả tang Lý Văn T đang có hành vi Tàng trữ 11,7040 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ) để sử dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân huyện Đ đã truy tố; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu thu thấp có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hô ̣i đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Lý Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, Tàng trữ hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”

. Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đên trật sự công cộng, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các loại pháo nổ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Từ những phân tích trên xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần vi phạm pháp luật này bị cáo không có vi phạm nào khác nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục là đủ, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ 01 bao tải màu trắng nhãn hiệu Red Star; 01 bao ni-lông trong suốt và sim số 0965.002.263 do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo 1906 màu xanh, số Imei 1 là 861325043026417, số Imei 2 là 861325043026409 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, biển số 48C1 - 342.08 cho bà Lý Thị S1 là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiêu hủy 07 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 10,0015 kilôgam, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành là phù hợp nên cần chấp nhận.

. Những vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với bà Lý Thị S1 do không biết bị cáo sử dụng xe ô tô của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng sử dụng mạng xã hội Facebook tên “Ba Phong” đã bán pháo nổ cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Lý Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N’Đir, huyện K, tỉnh Đắk Nông nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới và tông hợp đối với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ 01 bao tải màu trắng nhãn hiệu Red Star; 01 bao ni-lông trong suốt và sim số 0965.002.263 do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo 1906 màu xanh, số Imei 1 là 861325043026417, số Imei 2 là 861325043026409 do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, biển số 48C1 - 342.08 cho bà Lý Thị S1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiêu hủy 07 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 10,0015 kilôgam, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lý Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ