- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ngọc Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 21/7/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà H’Năm Bkrông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Vinh.
Bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐỖ NGỌC Q. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1999. Nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk.
Căn cước công dân số: 066099011411, do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 21/9/2022.
Nơi cư trú: thôn 4B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn 4B, xã E, tỉnh Đắk Lắk).
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng. Trình độ học V: 8/12.
Con ông Đỗ Ngọc H, sinh năm 1965, con bà Đỗ Thị N sinh năm 1969. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Bị cáo có vợ là Bùi Thị Thuỳ D, sinh năm 2000, có một con sinh năm 2023.
Tiền sự: 0; Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2023/HSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, tuyên phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025 đến nay (Có mặt).
Người bị hại: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn 13, xã V, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn 13, xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ) (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Ông Lê Công V, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn Lô 13, xã D, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn Lô 13, xã Dray Bhăng, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) (Có mặt).
-Bà Bùi Thị Thùy D, sinh năm 2000.
Nơi cư trú: Thôn 7, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn 7, xã E huyện E, tỉnh Đắk Lắk) (Có mặt).
Người làm chứng:
-Ông Đặng Anh D, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn 13, xã V, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn 13, xã V, huyện Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk ) (Vắng mặt).
-Ông Hoàng Thanh S, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn 9, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Thôn 9, xã K, huyện Krông Pắc tỉnh Đắk Lắk) (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 18/01/2025, Đỗ Ngọc Q, sinh năm 1999, trú tại thôn 4B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nhân viên chi nhánh giao hàng của công ty Best EXPRESS điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68F1-018.xx đến căn nhà số 41, thôn 13, xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để giao đơn hàng cho anh Đặng Anh D sinh năm 1991, khi đến nơi thì anh D không có ở nhà nên Q tiếp tục đi giao các đơn hàng khác quanh khu vực, lúc này, anh D gọi điện lại cho Q rồi thanh toán số tiền của đơn hàng là 140.000 đồng và anh D nói Q để đơn hàng vào nhà Dg. Q điều khiển xe mô tô quay lại căn nhà trên, để xe ở sân và đi vào trong nhà. Q thấy tại phòng ngủ thứ 3 có anh Nguyễn Tuấn A sinh năm 1989 đang nằm ngủ, bên cạnh anh Tuấn A có 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu Iphone 15 Pro nên Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này. Sau đó Q đã lén lút lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào trong túi quần rồi đi ra ngoài. Sau đó Q điều khiển xe mô tô đến khu vực xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây Q tắt nguồn, tháo sim điện thoại. Sau đó, Q mang điện thoại đến cửa hàng sửa chữa điện thoại V Apple, địa chỉ tại số 268 đường N thuộc tổ dân phố 3B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk do anh Lê Công V là chủ sở hữu. Tại đây, Q đưa điện thoại Iphone 15 Pro cho V xem và nói điện thoại do Q nhặt được và mở khoá. Sau khi kiểm tra, V không mở khoá được nên Q đã bán chiếc điện thoại trên cho V với giá 5.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Đỗ Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 5.000.000 đồng có được từ việc bán điện thoại. Sau đó, anh V cũng tự nguyện giao nộp điện thoại Iphone 15 Pro đã mua của Q cho Cơ quan cảnh sát điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KLHĐĐGTS ngày 19/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kế luận: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 15 Pro 128GB, màu titan tự nhiên, số Imei 1356116985894256 tại thời điểm ngày 18/01/2025 là 19.000.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 611/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Xe mô tô BKS 68F1-018.xx có số khung không thay đổi, số máy không thay đổi.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk) truy tố bị cáo Đỗ Ngọc Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Tuấn A đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm và làm đơn xin bãi nại cho bị cáo.
-Về xử lý vật chứng:
+ Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại tài sản 01 điện thoại cảm ứng hiệu Iphone 15Pro 128GB, màu titan tự nhiên, số IMEI 356116985894256 trên cho anh Nguyễn Tuấn A là chủ sở hữu.
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại số tiền trên cho anh Lê Công V số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo Q giao nộp.
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 68F1-018.xx, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn xanh trắng cho chị Bùi Thị Thuỳ D là chủ sở hữu.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Ngọc Q không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặc dù bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi chiếm đọat tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị. Song, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, vì động cơ tư lợi cá nhân nên khoảng 12 giờ 20 phút ngày 18/01/2025, Đỗ Ngọc Q đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 15 Pro 128GB, màu titan tự nhiên, số Imei 1356116985894256 của anh Nguyễn Tuấn A, trú tại thôn 13, xã V, tỉnh Đắk Lắk, gây thiệt hại 19.000.000 đồng. Vì vậy cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong tòan xã hội.
Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy có đủ căn cứ để kết luận, quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Đối với anh Lê Công V là chủ cửa hàng điện thoại V Apple, khi mua chiếc điện thoại Iphone 15 Pro 128GB của Q, anh V không biết đây là tài sản phạm tội mà có, không hứa hẹn chứa chấp, tiêu thụ tài sản phạm tội mà có nên Cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với chị Bùi Thị Thùy D, là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn xanh trắng, biển kiểm soát 68F1-018.xx mà Đỗ Ngọc Q dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định chị D không biết việc Q lấy xe mô tô của mình đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý đối với Bùi Thị Thùy D.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, đã trả lại cho người bị hại và được người bị hại đã làm đơn bãi nại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo trong khi lượng hình để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 26/9/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, vì vậy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Tuấn A đã nhận lại tài sản bị mất, xin bãi nại cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
-Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại cảm ứng hiệu Iphone 15Pro 128GB, màu titan tự nhiên, số IMEI 356116985894256 của anh Nguyễn Tuấn A; Số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Q giao nộp là của anh Lê Công V và xe mô tô biển kiểm soát 68F1-018.xx, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn xanh trắng thuộc quyền sở hữu của chị Bùi Thị Thuỳ D, vì vậy việc Cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại tài sản cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2.Về căn cứ áp dụng pháp luật và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo ĐỖ NGỌC Q 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3.Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Tuấn A đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
-Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã trả lại 01 điện thoại cảm ứng hiệu Iphone 15Pro 128GB, màu titan tự nhiên, số IMEI 356116985894256 cho anh Nguyễn Tuấn A; Trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho anh Lê Công V và trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 68F1-018.xx, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu sơn xanh trắng cho chị Bùi Thị Thuỳ D.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Ngọc Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4-Đắk Lắk; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HS, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) H’Năm Bkrông |