vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tiến H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ (điều 212 Bộ lu…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày: 30 – 7 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Phong bà bà Bùi Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 09/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 14/7/2025 đối với bị cáo:

Phạm Tiến H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/02/1981 tại: P, Phú Thọ; nơi cư trú: Khu E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nay là: Khu E, xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình T và bà Trần Thị Q; có vợ Nguyễn Thị H1; có hai con, lớn sinh năm 2005 và nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/12/2024, chuyển tạm giam ngày 11/12/2024; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Cháu Bùi Văn A, sinh ngày 15/11/2008; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ (đã chết).

+ Cháu Bùi Văn T1, sinh năm 2005; Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ (đã chết).

+ Cháu Bùi Xuân T2, sinh ngày 30/10/2007; Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Văn A: Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1976 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Văn T1: Bà Bùi Thị H3, sinh năm 1970 và ông Bùi Văn T3, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị H3, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Xuân T2: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1978 và bà Bùi Thị D, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn K, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH H4. Địa chỉ trụ sở: Khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nay là: Khu C, xã P, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự: Ông Bùi Thanh T4, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nay là: Khu C, xã P, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự: Ông Trần Văn N1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Nay là: Khu C, xã L, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978. Trú tại: Khu E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Nay là: Khu E, xã P, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

+ Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là: Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tiến H là lái xe ô tô đầu kéo tại công ty TNHH H4 có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Phú Thọ, nay là xã P, tỉnh Phú Thọ từ năm 2023. Phạm Tiến H được giao điều khiển xe đầu kéo biển số: 19H - 04006 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 (Phạm Tiến H đã có giấy phép lái xe số 0250810141 phù hợp với loại xe được giao điều khiển).

Khoảng 19 giờ ngày 01/12/2024, H được giao nhiệm vụ đến Công ty H5 thuộc huyện P, tỉnh Phú Thọ để điều khiển xe đầu kéo biển số: 19H - 04006 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86, trên xe có chở 27 khối axít HCL đi đến Công ty C thuộc tỉnh Thanh Hóa để trả hàng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi lái xe đi đến Km 92+00 quốc lộ A thuộc địa phận khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình (Nay là: Khu T, xã T, tỉnh Phú Thọ), H điều khiển xe đi ở giữa phần vạch kẻ đường theo hướng Hòa Bình - L, lúc này Hải quan sát thấy cách phía trước chiều đi của mình có 01 chiếc xe ô tô khách đang dừng đỗ ở vị trí cổng trào (bên phải chiều di chuyển) và 01 chiếc xe máy điện đang di chuyển phía sau xe ô tô khách đừng đỗ. Thấy vậy H tiếp tục điều khiển xe đi ở phần giữa đường, khi đi qua xe máy điện cùng chiều thì nhìn thấy ở hướng ngược chiều có một chiếc xe mô tô không gắn biển số đang đi đến do Bùi Văn A, sinh năm 2008 điều khiển chở theo sau là Bùi Xuân T2, sinh năm 2007 và Bùi Văn T1, sinh năm 2005, cả ba người cùng trú tại: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Khi phát hiện ra có xe mô tô ngược chiều đi tới Phạm Tiến H đã không kịp xử lý nên đầu xe ô tô do H điều khiển đã đâm trực diện với chiếc xe mô tô do Bùi Văn A điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Bùi Xuân T2, Bùi Văn A, Bùi Văn T1 tử vong tại chỗ và hai phương tiện bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường hai chiều tại địa phận thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình, ở giữa có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng, lòng đường rộng 14 mét, hai bên đường là nhà dân sinh sống, đoạn đường có hệ thống đèn đường chiếu sáng, mặt đường được dải nhựa, bằng phẳng có tầm nhìn thoáng, tầm nhìn không bị che khuất. Lấy cột mốc “Km92” làm mốc hiện trường, lấy mép đường bên trái hướng Hòa Bình - L làm mép chuẩn. Quá trình khám nghiệm xác định điểm (A) là điểm va chạm đầu tiên của hai phương tiện. Đo từ (A) đến mốc “Km92” được 20,15m, đo từ (A) đến mép đường chuẩn được 5,6m. Vị trí vùng mảnh vỡ để lại sau đâm va có diện tích 21,5m x 8m bắt đầu từ khoảng giữa phương tiện xe ô tô trải dài đến hết khu vực các nạn nhân tử vong.

Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe ô tô đầu kéo biển số: 19H - 04006 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 ghi nhận các dấu vết cụ thể như sau: Mặt ca lăng trước bên trái rời ra ngoài, nứt vỡ diện (85x80) cm; cản dưới bên trái nứt vỡ diện (105x90) cm; cụm đèn pha và đèn tín hiệu phía trước bên trái vỡ toàn bộ; khung giá đỡ, bắt cản dưới bên trái bị bẹp lõm, mài mòn, trượt xước sơn, kim loại diện (78x25) cm, điểm lõm cách mặt đất 43cm, điểm lõm sâu nhất diện (25x30) cm; cụm đèn trước bị vỡ, tụt phần giắc điện. Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh; Số máy: JA70E0260029; Số khung: RLHJA3937RY005744, xe không gắn biển số đăng ký ghi nhận các dấu vết cụ thể như sau: Toàn bộ phần đầu xe vỡ nát hoàn toàn, chỉ còn phần khung tay lái bằng kim loại; phần bánh xe phía trước cong vênh, biến dạng toàn bộ; cụm xi lanh vỡ toàn bộ; bộ C1 vỡ toàn bộ; khung xe phía trước biến dạng chiều hướng từ trước về sau; vết trượt xước kim loại sáng bóng diện (7x5) cm tại phần đuôi bọc kim loại ống xả; dàn khung để chân cong vênh, lệch khỏi vị trí ban đầu theo chiều hướng từ trước về sau; bình ắc quy; yên xe; cốp đựng đồ dưới yên xe bung rời ra ngoài; khung tay lái có vết gãy kim loại kích thước 03cm.

Bản kết luận giám định tử thi số 645/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 10/12/2024 của phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Bùi Văn T1 chết do đa chấn thương”.

Bản kết luận giám định tử thi số 646/KLGĐTT-PC09-CAT, ngày 10/12/2024 của phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Bùi Xuân T2 chết do chấn thương sọ não.”

Bản kết luận giám định tử thi số 647/KLGĐTT-PC09-CAT, ngày 10/12/2024 phòng K1 Công an tỉnh H: Nạn nhân Bùi Văn A chết do chấn thương sọ não.

Bản kết luận giám định số 9359/KL-KTHS 06/12/2024 của V - Bộ C2: Trong mẫu máu ghi thu của Phạm Tiến H gửi giám định không tìm thấy ethanol (Cồn).

Bản kết luận giám định số 9387/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của V - Bộ C2 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Phạm Tiến H gửi giám định.

Bản Kết luận giám định số 9360/KL-KTHS, ngày 09/12/2024, V - Bộ C2 đã ra kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Xuân T2 gửi giám định không tìm thấy ethanol (Cồn).

Bản Kết luận giám định số 9382/KL-KTHSNgày 11/12/2024, V - Bộ C2 đã kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bùi Xuân T2 gửi giám định.

Bản Kết luận giám định số 9361/KL-KTHS, ngày 09/12/2024, V - Bộ C2 đã ra kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn A gửi giám định có tìm thấy ethanol (Cồn); nồng độ ethanol: 216mg/100ml máu.

Bản Kết luận giám định số 9384/KL-KTHSNgày 11/12/2024, V - Bộ C2 đã kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn A gửi giám định.

Bản Kết luận giám định số 9362/KL-KTHSNgày 06/12/2024, V - Bộ C2 đã kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn T1 gửi giám định có tìm thấy ethanol (Cồn); nồng độ ethanol: 283mg/100ml máu.

Bản Kết luận giám định số 9385/KL-KTHS, ngày 11/12/2024, V - Bộ C2 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn A gửi giám định.

Bản Kết luận giám định số 9959/KL-KTHS, ngày 20/01/2025, V - Bộ C2 đã ra kết luận: Tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn, hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô đầu kéo biển số: 19H – 04006, kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 dảm bảo an toàn kỹ thuật để tham gia giao thông.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKSHB-P2 ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình; nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Phạm Tiến H về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 3 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tiến H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, không kêu oan.

Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập: Những người tham gia tố tụng được triệu tập có mặt tại phiên toà khai nhận đúng như lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị đơn dân sự: Phạm Tiến H là nhân viên lái xe của công ty H4. Ngày 01/12/2024, Công ty có giao xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 19H - 040.06 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 cho H điều khiển chở 27 khối axít HCL đi đến Công ty C thuộc tỉnh Thanh Hóa để giao hàng. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, xe ô tô đầu kéo do H điều khiển đi đến km 92+00 quốc lộ A thuộc địa phận khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì xảy ra tai nạn dẫn đến cháu Bùi Văn A, Bùi Văn T1 và Bùi Xuân T2 tử vong. Công ty đã nhận lại xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 19H - 040.06 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 và các giấy tờ liên quan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 480.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Phạm Tiến H 01 (một) căn cước công dân số 025081014188 mang tên Phạm Tiến H; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Phạm Tiến H, sinh năm 1981, số 250111000552. Trả lại anh Bùi Văn H2 01 (một) xe mô tô loại xe HONDA màu xanh; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 28000450 mang tên Bùi Văn H2.

Các ý kiến tranh luận: Bị cáo, người đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự nhất trí với luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H; nay là Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

. Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 01/12/2024, tại km 92+00 quốc lộ A thuộc địa phận khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình (Nay là: Khu T, xã T, tỉnh Phú Thọ), Phạm Tiến H có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 19H - 040.06 kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86 đi theo hướng hướng Hòa Bình - L đã không tuân thủ quy tắc giao thông, không đi đúng bên phải theo chiều đi của mình, không đi đúng làn đường, phần đường quy định, lấn sang phần đường xe chạy ngược chiều nên đã đâm va trực diện với xe mô tô không gắn biển số do Bùi Văn A điều khiển theo hướng ngược chiều chở theo sau là Bùi Xuân T5 và Bùi Văn T1, cả ba người cùng trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nay là: Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ. Hậu quả: Bùi Xuân T2, Bùi Văn A; Bùi Văn T1 tử vong tại chỗ.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 9 về quy tắc chung giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp vi phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo có năng lực trách chịu nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe số 0250810141 phù hợp với loại xe được giao điều khiển theo quy định. Tuy nhiên, khi điều khiển xe tham gia giao thông đã không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ nên gây ra tai nạn làm thiệt hại tính mạng người khác, hậu quả là rất nghiêm trọng. Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

. Về nhân thân: Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho 03 gia đình bị hại tổng số tiền 480.000.000 đồng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại cũng có lỗi, điều khiển phương tiện xe mô tô có dung tích xi lanh 110cm3 tham gia giao thông khi chưa đủ 18 tuổi (Mới được 16 tuổi, 00 tháng 16 ngày). Khi tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm theo quy định và điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn là vi phạm điểm b khoản 1 Điều 60, khoản 2 Điều 30 và khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ (được sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại rượu, bia). Bị cáo có bố mẹ đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố đẻ là ông Phạm Đình T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, mẹ đẻ là bà Trần Thị Q được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho 03 gia đình bị hại số tiền 480.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Đối với các thiệt hại của xe ô tô đầu kéo biển số: 19H-04006, kéo theo Rơ mooc biển số: 19R - 013.86, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản là Công ty TNHH H4 đã có đơn từ chối bồi thường thiệt hại sau tai nạn đối với Phạm Tiến H nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh; số máy: JA70E0260029; số khung: RLHJA3937RY005744 (không gắn biển số) chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn H2, sinh năm 1976, trú tại: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình đã có đơn từ chối bồi thường thiệt hại về tài sản sau vụ tai nạn đối với Phạm Tiến H nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết

. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ gồm:

- 01 (một) căn cước công dân số 025081014188 mang tên Phạm Tiến H. 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Phạm Tiến H, sinh năm 1981, số 250111000552. 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 28000450 mang tên Bùi Văn H2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ; Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo và giấy tờ liên quan đến tài sản, cần trả lại cho bị cáo và chủ sở hữu khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với xe mô tô không gắn biển kiểm soát, cần trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Văn H2.

Đối với ô tô đầu kéo biển số 19H - 04006 kéo theo Rơ mooc biển số 19R - 013.86; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, số giấy chứng nhận 8934247849707; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 1732896 của phương tiện có biển đăng ký 19R-018.36; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 1732895 của phương tiện có biển đăng ký 19H-040.06. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH H4. Ngày 24/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 18/QĐ-ĐTTH, trả lại tài sản cho công ty nên không đề cập.

. Về vấn đề khác: Ngày 01/12/2024, cháu Bùi Văn A tự ý lấy xe mô tô không gắn biển kiểm soát của anh Bùi Văn H2 để ở nhà để tham gia giao thông. Khi đó, anh H2 không biết và không giao xe cho cháu A. Do vậy, không có căn cứ xử lý về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tiến H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Tiến H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại bị cáo Phạm Tiến H 01 (một) căn cước công dân số 025081014188 mang tên Phạm Tiến H; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Phạm Tiến H, sinh năm 1981, số 250111000552;

Trả lại anh Bùi Văn H2 01 (một) xe mô tô loại xe HONDA màu xanh; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 28000450 mang tên Bùi Văn H2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nay là Xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 46 ngày 21/7/2025 giữa Công an tỉnh P và phòng Thi hành án khu vực A - Phú Thọ).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ