- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Văn Đen - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội Hiếp dâm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 15 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thành
Ông Hà Bảo Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng tham gia phiên tòa: Ông
Trương Hoàng Mạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1976; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ng, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Khá (đã chết) và bà Sên Thị Tư; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 14/9/2024 cho đến nay.
Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thị Mơ, sinh năm 1994 (Có mặt)
Cư trú: ấp Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
Bà Hồ Thị Thủy, sinh năm 1962 (Có mặt)
Cư trú: ấp Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Mơ: Ông Trần Hoàng Út – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 10 năm 2023 (không xác định ngày cụ thể), Huỳnh Văn Đ đi nhậu về ngủ trên gác lửng ở căn chồi dưới bến sông trước nhà tại ấp Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ng, tỉnh Cà Mau. Đến khoảng 03 giờ sáng, Huỳnh Văn Đ phát hiện Nguyễn Thị Mơ, sinh năm 1994, là người bị bệnh tâm thần ở gần nhà của Đ chui vào mùng của Đ. Lúc này, Đ thức dậy thì thấy Mơ không mặc quần áo và đang dùng tay cởi quần ngắn của Đ xuống tới đầu gối, Mơ dùng tay kích thích dương vật của Đ, khoảng một lúc sau thì dương vật của Đ cương cứng thì Mơ leo lên người của Đ rồi cầm đưa dương vật của Đ đưa vào âm đạo của Mơ để quan hệ tình dục. Đ và Mơ quan hệ tình dục với nhau khoảng 30 phút thì Đ thõa mãn xuất tinh vào âm đạo của bà Mơ. Sau khi quan hệ xong, Mơ mặc quần áo vào rồi trèo xuống gác đi về nhà, còn Đ nằm nghỉ khoảng 01 tiếng đồng hồ thì đi lên nhà để thay quần áo và nói cho bà Châu Thị Tươi là vợ của Đ biết việc đã quan hệ tình dục với Mơ.
Đến sáng cùng ngày, Đ đi sang nhà của bà Hồ Thị Thủy là mẹ ruột của Mơ để nói cho bà Thủy, ông Nguyễn Văn Mến (anh ruột bà Mơ) và bà Châu Thị Trúc (chị dâu Mơ) biết việc Đ và Mơ đã quan hệ tình dục với nhau. Sau đó, Đ đưa cho bà Thủy số tiền 500.000 đồng để bà Thủy mua thuốc cho Mơ uống ngừa thai nhưng bà Thủy không mua. Đến ngày 19/02/2024, bà Thủy phát hiện Mơ có biểu hiện lạ nên bà Thủy đưa Mơ đến Trung tâm Y tế huyện Ng khám, kết quả Mơ có thai 19 tuần. Ngày 21/5/2024, bà Thủy đến Công an xã Tân Ân trình báo, sau đó đưa Mơ đến Trung tâm Y tế huyện Ng khám thai thì phát hiện Mơ có dấu hiệu “thai lưu” nên đưa bà Mơ đến Bệnh viện Sản nhi Cà Mau để bà Mơ sinh.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục số 45/KLXHTD-TTPY ngày 19/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận đối với Nguyễn Thị Mơ như sau: Bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương, không xếp tỷ lệ%; Màng trinh dạng vòng, rách cũ vị trí 4 giờ và 11 giờ, không xếp tỷ lệ rách màng trinh.
Tại Kết luận giám định pháp y về ADN số 10/KLGĐADN-TTPY ngày 11/6/2024 của Trung tâm Pháp y Cà Mau, kết luận:
- Thai nhi do bà Nguyễn Thị Mơ sinh ngày 21/5/2024 có quan hệ huyết thống mẹ - con với bà Nguyễn Thị Mơ;
- Thai nhi do bà Nguyễn Thị Mơ sinh ngày 21/5/2024 có quan hệ huyết thống cha - con với ông Huỳnh Văn Đ.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 298/2024/KLGĐ ngày 15/7/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Tại thời điểm bị xâm hại tình dục và hiện tại bà Nguyễn Thị Mơ mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn Đ trình bày: Vào khoảng tháng 10 năm 2023, Huỳnh Văn Đ lợi dụng Nguyễn Thị Mơ là người bị nhược điểm về tâm thần nên đã có hành vi quan hệ tình dục với Mơ 01 lần tại căn chồi phía trước nhà của Đ ở ấp Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ng, hậu quả làm cho Mơ mang thai.
Bản Cáo trạng số: 49/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng truy tố Huỳnh Văn Đ về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự.
- Ông Trần Hoàng Út là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Mơ phát biểu: Bị cáo Huỳnh Văn Đ biết rỏ bị hại Nguyễn Thị Mơ là người có nhược điểm về thể chất tinh thàn nhưng bị cáo Đ vẫn quan hệ tình dục làm cho bị hại Mơ có thai. Hành vi của bị cáo Đ cấu thành tội hiếp dâm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã khắc phục cho gia đình bị hại số tiền 12.000.000 đồng. Hiện nay gia đình bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự; yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình làm người công dân tốt có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 141, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ mức án từ 04 (Bốn) năm tù đến 05 (Năm) năm tù.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo để bị cáo sớm trở về gia đình đi làm kiếm tiền nuôi vợ, con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đà được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh:
Qua diễn biến tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở xác định: Vào khoảng tháng 10 năm 2023, Huỳnh Văn Đ lợi dụng Nguyễn Thị Mơ là người bị nhược điểm về tâm thần nên đã có hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của người bị hại để thỏa mãn nhu cầu sinh lý bân thân.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội Hiếp dâm, phạm vào điểm g khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng truy tố bị cáo là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến thể chất, nhân phẩm, danh sự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của người dân tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Khi thực hiện hành vi bị cáo là người đã thành niên, bị cáo có đủ nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện chỉ để thỏa màn nhu cầu dục vọng của bản thân. Hơn nữa bị cáo biết bị hại là người có nhược điểm về thể chất tinh thần nhưng bị cáo vẫn quan hệ tình dục. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết có như thế mới phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra làm rõ vụ án; Bị cáo là người dân tộc Khmer, học thức kém nên có phần nào hạn chế nhận thức pháp luật; bị cáo đã bồi thường xong tiền thang thuốc, tiền tổn thất tin thần cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng; bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại phiên tòa và trong lời nói sau cùng thể hiện bị cáo đã có sự ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về thực hiện hoạt động tố tụng: Qua diễn biến phiên tòa cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chưa ghi nhận có việc khiếu nại hoặc phản ánh tại phiên tòa về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiếm sát viên. Quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền do luật định.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; luật phí và lệ phí năm 2015; nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qưốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án để buộc bị cáo phải chịu khoản tiền chi phí tố tụng hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội Hiếp dâm.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 141, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2024.
2. Căn cứ khoản 2 Điền 136 Bộ lưật tố tụng hình sự năm 2015; luật phí, lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Ng; - Công an huyện Ng; - CC-THADS huyện Ng; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |