- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng D - VCHC - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 21-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Rê;
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ,
tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An tham gia phiên
tòa: Bà Huỳnh Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long
An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS
ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐST-
HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng D - Sinh ngày 20-11-1998, Long An. Nơi cư trú: Ấp E, xã M,
huyện Đ, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 02/12. Dân tộc:
Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn
Hoàng H (đã chết) và bà Trần Thị T. Vợ: Nguyễn Thị Huyền T1 (không có đăng ký
kết hôn, không còn chung sống), có 01 con sinh năm 2019. Tiền án: Tại Bản án hình
sự sơ thẩm số 62/2019/HS-ST ngày 05-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh
Long An xử phạt Nguyễn Hoàng D 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất
ma túy, Nguyễn Hoàng D chấp hành xong hình tù ngày 18-9-2024; Tiền sự, nhân
thân: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-12-2024 đến nay. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Anh T2, Trợ giúp viên pháp lý -
Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Long An. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 07-12-2024, Nguyễn Hoàng D nhận được điện thoại
của người tên T3 (người Campuchia) thuê D vận chuyển hàng cấm là pháo nổ từ khu vực hàng cây cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 01km đến bãi đất trống tại đoạn kênh T, thuộc ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, mỗi chuyến trót lọt, D được trả công giá 200.000 đồng. D đồng ý.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô biển số 62K1-4321 đến bãi
đất trống tại ấp F, xã M, D bỏ xe lại tại đây, đi bộ theo bờ kênh Khu dân cư hướng về biên giới Việt Nam - Campuchia. Tại đây, D thấy có 08 túi nylon đen bên trong chứa pháo nổ. Lúc này, ngoài D ra còn có 03 người đàn ông khác không xác định được nhân thân, lai lịch, người Campuchia, cùng tham gia vận chuyển pháo nổ với D, mỗi người chia nhau xách 02 túi nylon chứa pháo nổ đi đến chỗ tập kết tại đoạn bờ kênh T. Trong lúc đứng đợi người đến nhận pháo nổ, D và 03 người đàn ông trên phát hiện có lực lượng Công an tuần tra nên bỏ chạy, riêng D bị lực lượng Công an đuổi theo bắt quả tang. D chưa nhận được tiền công vận chuyển pháo nổ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành tạm giữ 08 túi nylon
màu đen bên trong chứa 50 hộp giấy kích thước 10x17x17cm, bên ngoài vỏ nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp khối chữ nhật có 49 ống giấy trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm, nghi là pháo hoa nổ, được niêm phong ký hiệu MGĐ gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 7529/KL-KTHS ngày 12-12-2024 của Phân
viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu ký hiệu MGĐ gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng 80,7kg. Hoàn lại 45 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10x17x17cm, bên ngoài vỏ nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi họp khối chữ nhật có 49 ống giấy trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm.
Qua công tác khám nghiệm hiện trường còn thu giữ các vật chứng: 01 chìa
khóa xe mô tô (niêm phong số 1906869), 01 cái nón màu đỏ có chữ Hilfiger (niêm phong số 1903422), 01 cái áo sơ mi dài tay có cổ màu nâu, viền đỏ, hoa văn trên thân áo và tay áo có màu nâu - đen - trắng (niêm phong số 19003421), 01 đôi dép màu vàng size 11 (niêm phong số 1903423), 01 đôi dép màu vàng size 9 (niêm phong số 1903407), 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ - đen, biển số 62K1-4321 (các dấu vết thu được trên xe mô tô này niêm phong số 1906883) và 08 túi nylon màu đen nghi chứa pháo nổ (được niêm phong thùng carton ký hiệu TNL) để giám định mẫu ADN.
Tại Bản kết luận giám định số 7528/KL-KTHS ngày 16-12-2024 của Phân
Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 08 túi nylon màu đen được niêm phong thùng carton ký hiệu TNLvà 01 áo sơ mi dài tay gửi giám định có
dính tế bào người, của cùng một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu
gen của Nguyễn Hoàng D. Trên chìa khóa xe gắn máy, nón vải, đôi dép nhựa màu
vàng kích thước size 11, đôi dép nhựa màu vàng kích thước size 9 và dấu vết thu trên
xe mô tô biển số 62K1-4321 gửi giám định có dính tế bào người. Phân tích được kiểu
gen không hoàn chỉnh từ mẫu tế bào này nên không truy nguyên được cá thể. Mẫu
vật sau giám định được hoàn lại đối tượng giám định.
Việc xử lý vật chứng:
- Đối với 45 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10x17x17cm, bên ngoài vỏ
nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi họp khối chữ nhật có 49 ống giấy
trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm là pháo hoa nổ được hoàn lại sau giám định,
Công an huyện Đ đã thành lập hội đồng tiêu hủy.
- Đối với 01 cái nón màu đỏ có chữ Hilfiger, 01 cái áo sơ mi dài tay có cổ màu
nâu, viền đỏ, hoa văn trên thân áo và tay áo có màu nâu - đen - trắng, 01 đôi dép màu
vàng size 9, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản này cho chủ sở hữu là
Nguyễn Hoàng D.
- Đối với điện thoại di động Nguyễn Hoàng D sử dụng để lạc với người tên T3
(người Campuchia) đã bị D làm rơi xuống kênh trong quá trình bị bắt quả tang, Cơ
quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.
- Đối với 01 xe mô tô không có số máy và số khung, được gắn biển số 62K1-
4321 (biển số giả). Kết quả tra cứu xác định biển số 62K1-4321 được cấp cho xe mô
tô có số máy VHHJL152FMH00081932, số khung VHHDCH0C4UM081932 do ông
Nguyễn Minh T4 đứng tên đăng ký sở hữu vào năm 2005. Ông T4 xác định hiện ông
đang sử dụng xe mô tô có số khung, số máy và biển số trên;
Viện kiểm sát đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ các vật
chứng của vụ án: 01 xe mô tô không có số máy, số khung, được gắn biển số 62K1-
4321 (biển số giả); 01 chìa khóa xe mô tô; 01 đôi dép màu vàng size 11 (không xác
định được chủ sở hữu); 08 túi nylon màu đen.
Cáo trạng số 04/CT-VKSĐH ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng d về tội “Vận chuyển hàng cấm”
theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo D khai nhận đã thực hiện hành vi vận chuyển pháo hoa nổ và bị bắt
quả tang như nội dung Cáo trạng đã truy tố; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave,
màu đỏ - đen, biển số 62K1-4321 mua đã lâu, không có giấy tờ xe. Bị cáo nhận thấy
hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; Căn
cứ điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 191, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 32, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
+ Về các biện pháp tư pháp, căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, đề nghị:
Đối với 45 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10x17x17cm, bên ngoài vỏ
nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi họp khối chữ nhật có 49 ống giấy trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm là pháo hoa nổ được hoàn lại sau giám định, Công an huyện Đ đã thành lập hội đồng tiêu hủy nên không tiếp tục đề cập.
Đối với 01 cái nón màu đỏ có chữ Hilfiger, 01 cái áo sơ mi dài tay có cổ màu
nâu, viền đỏ, hoa văn trên thân áo và tay áo có màu nâu - đen - trắng, 01 đôi dép màu vàng size 9, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản này cho chủ sở hữu là Nguyễn Hoàng D nên không tiếp tục đề cập.
Đối với điện thoại di động Nguyễn Hoàng D sử dụng để lạc với người tên T3
(người Campuchia) đã bị D làm rơi xuống kênh trong quá trình bị bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được nên không đề cập.
Vật chứng còn tạm giữ gồm: 01 xe mô tô không có số máy, số khung, được
gắn biển số 62K1-4321 (biển số giả) không các định được chủ sở hữu, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 01 chìa khóa xe mô tô, 01 đôi dép màu vàng size 11 (không xác định được chủ sở hữu), 08 túi nylon màu đen, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ đang quản lý, không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 03 người đàn ông người Campuchia bị cáo Nguyễn Hoàng D khai
cùng tham gia vận chuyển pháo nổ với bị cáo D vào ngày 07-12-2024, không xác định được nhân thân, lai lịch, ngoài lời khai của bị cáo D không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành điều tra xử lý được nên không đề cập.
+ Đối với người tên T3 (người Campuchia) bị cáo D khai có hành vi thuê bị
cáo Nguyễn Hoàng D vận chuyển 80,7kg pháo nổ ngày 07-12-2024, không xác định được nhân thân, lai lịch, bị cáo D không xác định được số điện thoại của người này và số điện thoại của bị cáo D sử sụng để liên lạc với T3 do đây sim điện thoại khuyến mãi, không đăng ký thông tin thuê bao, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành điều tra xử lý được nên không đề cập.
Bài bào chữa của bà Nguyễn Thị Anh T2 bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với
tội danh, điều luật của bị cáo D theo cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố; Về tình tiết tăng nặng, thống nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát; Về tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo có học vấn thấp (lớp 2/12) khả năng nhận thức pháp luật hạn chế, là tình tiết giảm nhẹ theo
quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị
cáo D được hưởng hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan Cảnh sát điều
tra, Quyết định phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can và Cáo trạng truy tố bị cáo của
Viện kiểm sát đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hành
vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ
Khoảng 21 giờ ngày 07-12-2024, bị cáo Nguyễn Hoàng D có hành vi vận
chuyển 80,7kg pháo nổ (pháo hoa nổ) thuê, cho một người đàn ông tên T3 (người
Campuchia) từ khu vực hàng cây cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 01km
đến đoạn kênh T thuộc ấp F, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với giá tiền công 200.000
đồng, trong lúc đang chờ giao pháo nổ lên xuồng thì bị cáo Nguyễn Hoàng D bị Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt quả tang, bị cáo D vẫn chưa nhận được
tiền công.uệ đến cầu X (ấp C xã M, huyện Đ)Huệ
Tại phiên toà, bị cáo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận
của bị cáo phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập lúc 21
giờ 00 phút ngày 07-12-2024, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận giám
định số 7528/KL-KTHS và Bản kết luận giám định số 7528/KL-KTHS cùng ngày
16-12-2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các
tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Bị cáo D đủ lý trí và năng lực để nhận thức được hành vi vận chuyển hàng
cấm (pháo hoa nổ) là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Đã đủ căn
cứ kết luận hành vi của bị cáo D phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định
tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 04/CT-VKSĐH ngày 08-01-2025 của Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Đ đã truy tố bị cáo D với các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ,
đúng quy định pháp luật.
Hành vi “Vận chuyển hàng cấm” của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội,
xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước trong quản lý sản xuất, kinh
doanh một số loại hàng cấm. Không những thế, hành vi của bị cáo D còn gây mất an
ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị
cáo D cần được xử lý nghiêm, bị cáo có 01 tiền án, nhân thân xấu, cần cách ly bị cáo
ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo D có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa
án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo D thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính, gia đình thuộc diện hộ nghèo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc, diện hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo D
là có căn cứ pháp luật.
Xét đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo D là có căn cứ pháp luật.
Đối với 03 người đàn ông người Campuchia bị cáo Nguyễn Hoàng D khai
cùng tham gia vận chuyển pháo nổ với bị cáo D vào ngày 07-12-2024, không xác định được nhân thân, lai lịch, ngoài lời khai của bị cáo D không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành điều tra xử lý được nên không đề cập là phù hợp. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên T3 (người Campuchia) bị cáo D khai có hành vi thuê bị
cáo Nguyễn Hoàng D vận chuyển 80,7kg pháo nổ ngày 07-12-2024, không xác định được nhân thân, lai lịch, bị cáo D không xác định được số điện thoại của người này và số điện thoại của bị cáo D sử sụng để liên lạc với T3 do đây sim điện thoại khuyến mãi, không đăng ký thông tin thuê bao, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành điều tra xử lý được nên không đề cập. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Minh T4, là chủ sở hữu xe mô tô biển số 62K1-4321, số
máy VHHJL152FMH00081932, số khung VHHDCH0C4UM081932, hiện ông T4 vẫn đang quản lý sử dụng xe, biển số xe và giấy tờ xe; Ông T4 không liên quan đến biển số xe giả gắn trên xe dùng vận chuyển hàng cấm của bị cáo D và cũng không liên quan đến vụ án, nên tại bản án này không đưa ông T4 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.
Về các biện pháp tư pháp, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, xét thấy:
Đối với 45 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 10x17x17cm, bên ngoài vỏ
nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi họp khối chữ nhật có 49 ống giấy trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm pháo hoa nổ được hoàn lại sau giám định, Công an huyện Đ đã thành lập hội đồng tiêu hủy là phù hợp nên không tiếp tục đề cập.
Đối với 01 cái nón màu đỏ có chữ HILFIGER, 01 cái áo sơ mi dài tay có cổ
màu nâu, viền đỏ, hoa văn trên thân áo và tay áo có màu nâu - đen - trắng, 01 đôi dép
màu vàng size 9, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản này cho chủ sở hữu
là Nguyễn Hoàng D là phù hợp nên không tiếp tục đề cập.
Đối với điện thoại di động Nguyễn Hoàng D sử dụng để lạc với người tên T3
(người Campuchia) đã bị D làm rơi xuống kênh trong quá trình bị bắt quả tang, Cơ
quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được vật chứng này là
phù hợp nên không tiếp tục đề cập.
Vật chứng còn tạm giữ: 01 xe mô tô không có số máy, số khung (được gắn
biển số 62K1-4321 - biển số giả) không các định được chủ sở hữu, tịch thu sung vào
ngân sách nhà nước là phù hợp (không bao gồm biển số giả); 01 biển số 62K1-4321
(biển số giả), 01 chìa khóa xe mô tô, 01 đôi dép màu vàng size 11 (không xác định
được chủ sở hữu), 08 túi nylon màu đen, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ đang
quản lý, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí, căn cứ các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án xét thấy: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;
Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 191, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 32, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, các
Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 02
(hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 08-12-2024).
- Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo
Nguyễn Hoàng D 45 (bốn mươi lăm) ngày sau khi tuyên án (ngày 21-01-2025), để
đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
- Về các biện pháp tư pháp, áp dụng các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình
sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô không có số máy, số
khung, (được gắn biển số 62K1-4321 - biển số giả) (không bao gồm biển số giả);
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 62K1-4321 (biển số giả), 01 chìa khóa xe mô
tô, 01 đôi dép màu vàng size 11 (không xác định được chủ sở hữu) và 08 túi nylon
màu đen.
Vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ đang quản lý theo Quyết định
chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKSĐH ngày 08-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09-01-2025 của Công an huyện Đ.
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt
được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 21-01-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bị cáo; Liên quan; - UBND xã M; - Hồ sơ THA.HS (07); - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Lưu: Hồ sơ, án văn; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hùng Vương |