vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 22/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Tuyên bố: bị cáo Đào Mạnh Th phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đào Mạnh Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo: Đào Mạnh Thắng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 22- 5- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Th

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Thị Yến

Bà Tăng Thị Dân

- Thư ký phiên toà: Ông Lục Văn Biên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoài Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/HS-ST ngày 09/5/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/HS-ST, ngày 09/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Mạnh Th; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 24/8/1982, tại U, Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 3, khu N, phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đào Xuân Th2 và bà Lê Thị Q; vợ Bùi Thị Th1; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 02/7/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 26/11/2016, chấp hành xong thời gian thử thách.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/4/2025. Hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đầm Hà; có mặt.

- Bị hại: anh, chị Lý Văn Kh - Tô Thị V và Tô Văn K; cư trú tại: thôn Kh, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Bùi Thị Th1; địa chỉ: khu B, phường T thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người chứng kiến: anh La Ngọc H; địa chỉ: khu B, thị trấn B, huyện Bì, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Trần Văn Đ; địa chỉ: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Bà Vi Thị C; địa chỉ: thôn Kh, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Ông Đào Xuân Th2; địa chỉ: số nhà 22, tổ 3A, khu 1A, phường H, thành phố H tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Chị La Huyền H; địa chỉ: khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Chị Hồ Thị V; địa chỉ: Tổ 5, khu B, phường Ph, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Anh Đỗ Văn Th3; địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Bà Đào Ngọc A; địa chỉ: khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đào Mạnh Th và anh Trần Văn Đ có mối quan hệ quen biết. Khoảng đầu tháng 4/2018, Th gặp anh Đ tại một quán nước ở thị trấn B, huyện B. Trong lúc nói chuyện, Th tự nói có khả năng xin được việc trong đợt tuyển giáo viên vào tháng 6/2018. Do biết Th là em trai của bà Đào Ngọc A-Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Liêu, nên anh Đ tin Th có khả năng xin việc. Anh Đ nghĩ đến em rể họ là anh Lý Văn Kh (sinh năm 1982, trú tại thôn Kh, xã V, huyện B) có vợ là chị Tô Thị V đang dạy hợp đồng tại Trường Tiểu học xã Vô Ngại, đang có nhu cầu xin vào làm giáo viên chính thức, nên đã gọi điện giới thiệu anh Kh với Th, sau đó anh Đ cho số điện thoại để hai bên tự trao đổi với nhau. Ngày hôm sau, Th chủ động gọi điện rồi gặp anh Kh tại quán Phố Núi ở thôn N, xã V, Th giới thiệu là em của bà Đào Ngọc A- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Liêu, có khả năng xin việc vào làm giáo viên với chi phí một suất là 120.000.000 đồng, anh Kh đồng ý nhờ Th giúp, sau đó anh Kh về nói với vợ về nội dung nhờ Th xin việc rồi cùng chuẩn bị tiền và hồ sơ xin việc. Đến ngày 10/4/2018, Th gọi điện cho anh Kh bảo đem tiền đến nhà chị La Huyền H (bạn gái của Th) ở khu C, thị trấn B giao cho Th. Buổi chiều cùng ngày, anh Kh, chị V cùng anh Trần Văn Đ đến nhà chị H. Tại đây, anh Kh đã giao 120.000.000 đồng và 01 bộ hồ sơ của chị V cho Th, việc giao tiền được lập giấy biên nhận. Th nói cứ yên tâm chắc chắn sẽ được vào làm giáo viên nếu không xin được sẽ trả lại tiền cho anh Kh. Đến ngày 11/4/2018, Th điện thoại cho anh Kh nói còn một suất vào giáo viên cũng với giá 120.000.000 đồng và hỏi anh Kh còn có nhu cầu xin cho ai không, thì anh Kh nghĩ đến anh trai vợ là anh Tô Văn K (sinh năm 1987, trú tại thôn Kh, xã V) học sư phạm mỹ thuật ra trường nhưng chưa xin được việc, anh Kh nhờ Th giúp xin việc cho anh K, Th đồng ý. Sau đó, anh Kh nói với anh K về việc Đào Mạnh Th có khả năng xin việc vào làm giáo viên cho anh K với chi phí hết 120.000.000 đồng, anh K đồng ý nhờ Th giúp. Ngày 12/4/2018, Th bảo anh Kh đưa Th đến nhà anh K ở thôn Kh, xã V để nhận tiền. Đến nơi, Th nói với anh K là “còn một suất xin vào giáo viên mỹ thuật với chi phí 120 triệu đồng”, anh K giao 120.000.000 đồng và 01 bộ hồ sơ xin việc cho Th, việc giao tiền được lập giấy biên nhận, Th nói “anh sẽ cố gắng giúp em vào làm giáo viên”. Sau khi nhận tiền của anh Kh và anh K, Th không gặp ai để xin việc mà sử dụng toàn bộ số tiền trên chi tiêu cá nhân hết.

Đến đầu tháng 9/2018, anh Kh anh K, chị V thấy những người có tên trong danh sách cùng xét tuyển với anh K, chị V đã được tuyển giáo viên chính thức để đi làm, nhưng anh K, chị Vvẫn không nhận được thông báo tuyển dụng để đi làm nên nghi ngờ Th đã lừa đảo. Anh Kh và anh K đã nhiều lần điện thoại, gặp trực tiếp Th yêu cầu trả tiền nhưng Th không trả, mà nói hiện không có tiền, khi nào có tiền sẽ trả. Sau đó, anh Kh, anh K nhiều lần gọi điện thoại, hẹn gặp Th nhưng Th không nghe máy và lẩn tránh. Đến ngày 09/01/2018, anh Kh và anh K đến Công an huyện Bình Liêu tố cáo Th đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của các anh tổng số tiền là 240 triệu đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Đào Mạnh Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Th không có khả năng xin việc vào làm giáo viên cho vợ anh Kh và anh K, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Th đã lừa chiếm đoạt tiền của các bị hại.

Về phần dân sự: ngày 16/4/2025 và ngày 26/4/2025, Th cùng gia đình đã trả cho anh Lý Văn Kh và anh Tô Văn K mỗi người 120.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 225/CT-VKSBL ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu truy tố bị cáo Đào Mạnh Th, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Mạnh Th thừa nhận bản cáo trạng truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, là đúng người, đúng tội, không oan sai; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại anh, chị Lý Văn Kh- Tô Thị V có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: đầu tháng 4/2018, huyện Bình Liêu có đợt xét tuyển giáo viên, thông qua anh Trần Văn Đ là anh rể nói: Đào Mạnh Th có khả năng xin việc (giáo viên) và cho anh Khá số điện thoại của Th. Sau đó Th điện thoại cho anh Kh, gặp nhau Th giới thiệu là em trai của bà Đào Ngọc A, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Liêu và nói sắp có đợt tuyển công chức, nhưng phải chi 120.000.000đ/suất, Th hứa nếu không xin được việc sẽ hoàn trả lại. Đến ngày 10/4/2018, Th hẹn đem tiền đến nhà bạn gái của Th là La Huyền H tại khu C, thị trấn B để giao tiền, vợ chồng anh đã giao tiền cho Th, hai bên viết giấy biên nhận do Th đọc cho viết với nội dung vay nợ, hẹn ngày 10/9/2018 trả (lý do ghi ngày 10/9/2018 trả là sau khi thi tuyển không trúng thì đó là ngày trả lại tiền). Sau đó, Th nói còn một suất nên anh đã giới thiệu cho anh trai vợ là Tô Văn K để K xin làm giáo viên. Quá thời hạn 5 tháng công việc không được, tiền Th không trả, anh Khách đã gọi điện, nhắn tin, đồng thời đến nhà để đòi Th nhưng Thắng chỉ hứa hẹn mà không trả, nên anh đã tố cáo hành vi của Th tới Cơ quan Công an huyện Bình Liêu giải quyết.

Bị hại anh Tô Văn K có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: đầu tháng 4/2018 huyện Bình Liêu có đợt xét tuyển giáo viên, cùng thời điểm này có Đào Mạnh Th đến nhà và nói với anh sắp có đợt tuyển công chức, nhưng phải chi 120.000.000đ/suất, Th hứa nếu không được sẽ hoàn trả lại, hai bên viết giấy biên nhận do Th đọc cho anh viết. Quá thời hạn 5 tháng công việc không được, Th không trả tiền, anh đã gọi điện, đồng thời đến nhà để đòi Th nhưng Th chỉ hứa hẹn mà không trả, nên anh đã tố cáo hành vi của Th tới Cơ quan Công an huyện Bình Liêu giải quyết.

Anh, chị Lý Văn Kh- Tô Thị Vàng và Tô Văn K đều khai đã nhận lại số tiền giao cho Th, không còn yêu cầu gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Th.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Th1 có lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, thể hiện: chị và Đào Mạnh Th có quan hệ tình cảm, năm 2013, chị có thai rồi chia tay. Năm 2024, Th quay lại với chị và kết hôn năm 2024, còn việc lừa đảo của Th trước đó chị không rõ. Chỉ đến ngày 26/4/2025, khi Th bị bắt chị mới biết Th lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Th nói ra Bình Liêu trả nợ. Chị đã trả cho anh Kh 20.000.000đ, anh K 120.000.000đ, còn trước đó Th đã trả anh Kh 100.000.000đ. Số tiền chị trả cho anh K và anh Kh là tiền của chị do tiết kiệm mà có, chị không yêu cầu Th phải hoàn trả lại.

Người làm chứng Vi Thị C có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: anh K, chị V là con đẻ của bà, còn anh Kh là con rể. Tháng 4/2018 anh Kh có hỏi vay bà 20.000.000đ, để xin việc cho vợ là Tô Thị V, sau đó anh K hỏi vay 120.000.000đ nên bà cho K vay 120.000.000đ để xin việc (giáo viên), nguồn tiền cho vay do bà tiết kiệm từ lương hưu.

Người làm chứng Trần Văn Đ có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: anh quen Đào Mạnh Th từ năm 1999 thông qua Đào Mạnh L là anh trai Th. Khoảng tháng 4/2018, anh tình cờ gặp Th ở quán nước tại thị trấn Bình Liêu, Th nói có khả năng xin việc cho những người có nhu cầu làm giáo viên trong tháng 6/2018, do biết Th là em trai bà Đào Ngọc A- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Bình Liêu và Th khoe quen cả người trong Sở giáo dục và người thân của Bí thư huyện ủy Bình Liêu, nên anh đã giới thiệu Th cho Lý Văn Kh (là em trai bên vợ) để Kh xin cho vợ làm giáo viên. Sau đó mấy ngày, vợ chồng Kh gọi anh đến nhà La Thị H ở khu C, thị trấn B để giao tiền cho Th (khi đến chị H không có nhà), anh được chứng kiến vợ chồng Lý Văn Kh- Tô Thị V giao cho Th 120.000.000đ, làm lệ phí xin việc, các bên làm giấy biên nhận tiền, anh ký giấy là người làm chứng, anh Th cam kết nếu không xin được cho chị Vàng vào giáo viên thì sẽ trả lại số tiền vào ngày 10/9/2018.

Người làm chứng La Thị H có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: chị có quan hệ tình cảm với Th, nhưng chị không biết Th nhận tiền để chạy việc, chị nhớ khoảng tháng 10 hay tháng 11 năm 2018 có một thanh niên ở Khe Lánh đi cùng một anh giáo viên đến nhà chị hỏi địa chỉ và số điện thoại của Th.

Người làm chứng Hồ Thị V có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: chị quen biết Lý Văn Kh. Khoảng tháng 11/2018, Lý Văn Kh đến nhờ chị đi tìm nhà Đào Mạnh Th để đòi tiền Th, do Th nhận tiền để xin cho vợ Khách làm giáo viên, nhưng không gặp Th. Lần thứ hai, Kh cùng anh rể là Đỗ Văn Th3 cùng chị đến nhà Th để đòi tiền, khi đến nhà thì gặp Th, anh Kh vào nhà còn chị và Th3 đứng ở ngoài, Th có viết giấy hẹn trả tiền, chị và Th3 ký làm chứng. Sau đó chị còn cùng Kh đến nhà Th vài lần để Kh lấy tiền nhưng không gặp Th.

Người chứng kiến Đỗ Văn Th3 có lời khai trong quá trình điều tra, thể hiện: ngày 18/11/2018, anh cùng Lý Văn Kh đến nhà thanh niên ở phường N, U để đòi tiền do Khách đưa để xin việc cho vợ nhưng không xin được, có lần anh đi cùng chị Hồ Thị V, Th có ký giấy cam kết trả tiền, anh và chị V ký người làm chứng.

Bà Đào Ngọc A có lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, thể hiện: bà là chị gái Đào Mạnh Th, năm 2018, Th làm gì ở đâu hay ở Bình Liêu bà không rõ do Th không vào nhà bà, còn Th đi đâu gặp ai bà không biết, Th cũng không có đề xuất xin việc (giáo viên) hộ ai với bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Đào Mạnh Th 36 - 42 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/4/2025.

- Trách nhiệm dân sự: ngày 16/4/2025 và ngày 26/4/2025, Th cùng gia đình đã trả cho anh Lý Văn Kh và anh Tô Văn K mỗi người 120.000.000 đồng. Anh Lý Văn Kh và anh Tô Văn K không còn yêu cầu gì, nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại và những người tham gia tố tụng khác vắng mặt đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của những người này nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về hành vi của bị cáo: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Th không có khả năng xin việc vào làm giáo viên, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên Th đã lừa chiếm đoạt tiền của các bị hại. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai các bị hại anh, chị Lý Văn Kh- Tô Thị V và Tô Văn K, phù hợp Biên bản kiểm tra các tin nhắn điện thoại, người làm chứng và các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 225/CT-VKSBL ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu.

Đủ cơ sở kết luận: ngày 10/4/2018 tại khu C, thị trấn B, huyện B và ngày 12/4/2018 tại thôn Kh, xã V, huyện B, Đào Mạnh Th đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối lừa xin vào làm giáo viên tiểu học tại huyện Bình Liêu cho vợ anh Lý Văn Kh là chị Tô Thị V và anh Tô Văn K, để chiếm đoạt của anh Kh và anh K mỗi người 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá 240.000.000đ, là tình tiết định khung hình phạt theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm.

Điều 174 Bộ luật Hình sự, quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng ...”.

Hành vi của bị cáo Đào Mạnh Th nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần trừng trị thích đáng.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đào Mạnh Th đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Mạnh Th có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, quá trình điều tra bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra đẩy nhanh việc điều tra vụ án, có bố, mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ, bị cáo ở cùng và nuôi mẹ già yếu, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xử dưới khung hình phạt cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu có căn cứ chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự, thì bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét thấy: bị cáo vì mục đích tư lợi, tham lam, nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: tài sản do bị cáo chiếm đoạt của các bị hại đã được bồi thường đủ, bị hại không còn yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Th1 khai: chị và Đào Mạnh Th có quan hệ tình cảm, năm 2013 chị có thai rồi chia tay. Năm 2024, Th quay lại với chị và kết hôn năm 2024, còn việc lừa đảo của Th trước đó chị không rõ. Chỉ đến ngày 26/4/2025, khi Th bị bắt chị mới biết Th lừa đảo chiếm đoạt tài sản,Th nói ra Bình Liêu trả nợ. Chị đã trả cho anh Kh 20.000.000đ, trả anh K 120.000.000đ, còn trước đó Th đã trả anh Kh 100.000.000đ. Số tiền chị trả cho anh K và anh Kh là tiền của chị do tiết kiệm mà có. Tại phiên tòa, chị không yêu cầu bị cáo Th phải hoàn trả, nên không xét.

Án phí, quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự, có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Tuyên bố: bị cáo Đào Mạnh Th phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đào Mạnh Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 26/4/2025.

2- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Đào Mạnh Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3- Quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ