vanban.org

Bản án 03/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 15/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 2- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TRỌNG T -PHAN NGỌC Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HS-ST
Ngày 15 tháng 01 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Phạm Đức Hoài.

2- Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Lam - Kiểm sát viên.

Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 16/TB-TA ngày 18 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng T, sinh ngày 01/01/1990; nơi sinh: Huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1964 và bà: Phạm Thị Q, sinh năm 1966; vợ: Lê Ý N, sinh năm 2000; con: Có 01 người con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/11/2022, bị Công an xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Phan Ngọc Đ, sinh năm 1984 (Có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp L2C11, đường số 1, khu phố B, phường A, thành phố R,

tỉnh Kiên Giang.

Nơi công tác: Ấp Công an xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

1- Phạm Văn N, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

2- Lê Văn Đ, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng T là người từng có tièn sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Vào ngày 16/02/2024, ông Phan Ngọc Đ, Trưởng Công an xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang mời T lên trụ sở Công an xã, ông Đ yêu cầu T phối hợp test ma tuý, nhưng T không đồng ý, với lý do T yêu cầu khi test ma tuý phải có giấy xác nhận cho T, ông Đ không đồng ý theo yêu cầu của T, lúc này T đứng lên dùng tay đập mạnh vào bàn làm việc trước mặt ông Đ, rồi bỏ ra về.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Nguyễn Trọng T sau khi uống bia, có nồng độ cồn trong người, T nhớ lại chuyện mâu thuẫn với ông Phan Ngọc Đ trước đó, nên nảy sinh ý định tìm ông Đ chém trả thù. Lúc này, T đi ra nhà sau lấy 01 con dao loại giao dùng trong sinh hoạt gia đình, dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng dài khoảng 40cm đến 50cm chuẩn bị sẵn, T cầm dao giấu sau lưng đi ra phía trước gặp Phạm Văn N, T nhờ N chở đi công chuyện, rồi T kêu N chạy đến cổng Uỷ ban nhân dân xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, N dừng lại T đi xuống rồi T kêu N chạy về, sau đó N chạy xe về không có chứng kiến sự việc. Khi vào trụ sở Công an xã Đông Thái, T la hét, chửi đòi tìm ông Phan Ngọc Đ Trưởng Công an xã để chém, T cầm dao đi tìm ở các phòng làm việc của trụ sở Công an không gặp được ông Đ, vì hôm đó ông Đ không có lịch trực ở đơn vị. Lúc này, có vợ chồng ông Hà Văn C và bà Nguyễn Thị Bích T nhà ở khu tập thể Uỷ ban nhân dân xã Đông Thái có nghe tiếng T la hét chửi bới ở trụ sở Công an, nhưng không ra nhìn. Sau đó T cầm dao đi ra trước sảnh nhà làm việc của Công an xã, xô ngã 02 cái ghế phía trước sảnh, liền lúc này có Lê Văn Đ là bạn của T, Đ nghe Nguyễn Phước H điện cho hay tin T cầm dao đến Công an xã tìm ông Đ, Trưởng Công an xã để chém, nên Đ đi đến thấy T vẫn đang có hành vi la hét chửi thô tục nên Đ can ngăn và chở T về nhà.

Ngày 22/02/2024, ông Phan Ngọc Đ có đơn yêu cầu xử lý về hành vi vi phạm pháp luật đối với Nguyễn Trọng T. Đến ngày 22/7/2024, Nguyễn Trọng T bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Vật chứng của vụ án: Đối với cây dao mà Nguyễn Trọng T đem theo làm hung khí gây thương tích, T mang về nhà để vị trí nào không nhớ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về tài liệu điện tử thu giữ và niêm phong 01 USB màu bạc có in dòng chữ Kingston.

Tại bản Kết luận giám định số: 378/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

1- Tệp tin video mang tên “5170084657380.mp4” trong USB gửi giám định không phát hiện cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong video.

2- Một người cởi trần mặc quần dài màu tối, tay phải có cầm một vật dài, không xác định chính xác là vật gì, vật cầm trên tay phải có phần bàn tay cầm màu tối và phần trên dài, màu ánh sáng trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Ngọc Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Tại bản Cáo trạng số: 82/CT-VKS-AB, ngày 28/10/2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Trọng T không có nghề nghiệp ổn định và hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không khấu trừ thu nhận đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Ngọc Đ không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với cây dao mà Nguyễn Trọng T đem theo làm hung khí gây thương tích, T mang về nhà để vị trí nào không nhớ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về tài liệu điện tử thu giữ và niêm phong 01 USB màu bạc có in dòng chữ Kingston sẽ được tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo tỏ ra biết ăn năn, hối cải, nhìn nhận sai trái của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Nguyễn Trọng T sau khi uống bia, có nồng độ cồn trong người, T nhớ lại chuyện mâu thuẫn với ông Phan Ngọc Đ trước đó, nên lấy 01 con dao loại dao dùng trong sinh hoạt gia đình, chuẩn bị sẵn, đi đến trụ sở Công an xã Đông Thái, mục đích kiếm ông Phan Ngọc Đ Trưởng Công an xã để gây thương tích, khi đến trụ sở Công an xã T la hét chửi thề đòi tìm ông Đ để chém, T cầm dao đi tìm kiếm ở các phòng làm việc của trụ sở Công an xã không gặp ông Đ, vì hôm đó ông Đ không có lịch trực ở đơn vị. Sau đó, T cầm dao đi ra trước sảnh nhà làm việc của Công an xã, xô ngã 02 cái ghế phía trước sảnh. Lúc này có anh Lê Văn Đ là bạn của T đến can ngăn can ngăn và chở T về nhà.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích”, được quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trọng T là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực nhận thức được việc dùng dao là loại hung khí nguy hiểm để tìm người khác gây thương tích có thể dẫn đến chết người và vi phạm pháp luật. Nhưng vì muốn trả thù mà bị cáo bất chấp tất cả và xem thường pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của bị cáo là cố ý gây thương tích cho ông Đ, mặc dù chưa đạt mục đích và hậu quả chưa xảy ra, nhưng cũng làm ảnh hưởng đến tinh thần của người bị hại và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; gia đình có công cách mạng và hậu quả chưa có xảy ra. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử bị cáo mức án cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương, như vậy cũng đủ cho bị cáo tự cải tạo cho mình trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Ngọc Đ không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Trọng T bồi thường gì nên không xem xét.

Vật chừng của vụ án: Đối với cây dao mà Nguyễn Trọng T đem theo làm hung khí gây thương tích, T mang về nhà để vị trí nào không nhớ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về tài liệu điện tử thu giữ và niêm phong 01 USB màu bạc có in dòng chữ Kingston sẽ được tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Trọng T không có nghề nghiệp ổn định và hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không khấu trừ thu nhận đối với bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội cho bị cáo, mức hình phạt, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn được tính kể từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành, trường hợp bị cáo Nguyễn Trọng T có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

3- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phan Ngọc Đ không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Trọng T bồi thường gì nên không xem xét.

4- Vật chừng của vụ án: Về tài liệu điện tử thu giữ và niêm phong 01 USB màu bạc có in dòng chữ Kingston sẽ được tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

5- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Trọng T không có nghề nghiệp ổn định và hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên không khấu trừ thu nhận đối với bị cáo.

6- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

7- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/01/2025). Đối với ông Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ