- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lý Thị Mộc L khởi kiện giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Mộc L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 01 năm 2025 Về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan
Bà Đinh Thị Phương Lan
-Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 629/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 79/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 23/12/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Mộc L, sinh năm 1983;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971;
Đều ĐKHKTT và trú tại: Đội A, thôn C, xã Tiền Tiến, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
(Chị L có mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lý Thị Mộc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 15/5/2013 tại UBND xã Tiền T, huyện Thanh Hà (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống hạnh phúc 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T hay kiểm soát, hay ghen, hay nghĩ sai cho chị đi làm nhưng mà đi chơi, quản lý kinh tế không cho chị chăm lo con riêng của chị; anh T hay xúc phạm chị và gia đình chị. Ban ngày chị đi làm công nhân tối về anh T chửi chị suốt đêm trong thời gian dài khiến chị mệt mỏi, không đủ sức khỏe để đi làm. Anh T thường xuyên chửi và đuổi chị ra khỏi nhà rất nhiều lần, dẫn đến cuộc sống gia đình đầy áp lực và mệt mỏi. Năm 2019, chị đã phải dọn về quê ở Cát Bà, Hải Phòng sống gần 02 tháng. Sau đó, anh T đến nói chuyện với gia đình chị, xin phép đưa chị về và hứa sẽ thay đổi, vì thương con nên chị đã quay về sống với anh T. Từ đó đến nay anh T không thay đổi, thời gian 2 năm trở lại đây càng xúc phạm và chửi chị nhiều hơn. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, tình cảm không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về quan hệ con chung: Chị và anh T có 01 con chung: Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 09/11/2013 hiện tại đang ở cùng với chị và anh Nguyễn Văn T, sau khi ly hôn, chị nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lý Thị Mộc L kết hôn ngày 15/5/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiền T, huyện Thanh Hà (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn và chửi Chị L như Chị L trình bày; trong cuộc sống vợ chồng, Chị L đi đâu không thông báo cho anh biết, khi về anh có hỏi và nói cho Chị L để Chị L biết thì Chị L cũng không thay đổi. Nay Chị L yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý.
Về quan hệ con chung: Anh và chị Lý Thị Mộc L có 01 con chung: Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 09/11/2013 hiện tại đang ở cùng với anh và chị Lý Thị Mộc L, anh không đồng ý để Chị L nuôi con do chị L không có nơi ở ổn định. Sau khi ly hôn, anh trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và anh không yêu cầu Chị L cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh. Chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.
Về tài sản chung: không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án T hành xác minh tại địa phương nơi Chị L, anh T cư trú:
Bà Nguyễn Thị Len - Chi hội trưởng hội phụ nữ xã Tiền T cung cấp: Chị Lý Thị Mộc L và anh Nguyễn Văn T có kết hôn và sinh sống tại địa phương, nhà Chị L và anh T cách nhà bà một nhà, vợ chồng có mâu thuẫn thường xuyên hay cãi nhau vào buổi tối và ban đêm. Chị L có tâm sự với bà, anh T quản lý kinh tế, hàng tháng Chị L phải đưa tiền cho anh T quản lý. Hiện nay Chị L và anh T vẫn đang chung sống cùng nhà. Nay Chị L có đơn ly hôn với anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Xuân Dỹ - Trưởng thôn cung cấp: Chị Lý Thị Mộc L và anh Nguyễn Văn T có kết hôn và sinh sống tại địa phương, qua tìm hiểu nắm được Chị L và anh T hay có mâu thuẫn cãi nhau vào buổi tối đêm. Nay Chị L có đơn ly hôn với anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố Hải Dương phát biểu:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lý Thị Mộc L. Cho chị Lý Thị Mộc L được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cho chị Lý Thị Mộc L nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Mạnh Toàn, sinh ngày 09/11/2013 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng Chị L. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ với số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí mà Chị L đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Tòa án thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị Lý Thị Mộc L về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, trú tại: Đội 5, thôn Cập Thượng, xã Tiền T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Mộc L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tiền T, huyện Thanh Hà (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương vào ngày 15/5/2013 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời khai của Chị L: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm. Anh T kiểm soát, hay ghen, không tin tưởng Chị L, quản lý kinh tế gia đình, xúc phạm Chị L và gia đình Chị L. Ban ngày Chị L đi làm, tối về anh T chửi Chị L trong thời gian dài; năm 2019 Chị L đã về quê sinh sống 2 tháng vì thương con nên Chị L đã quay về sống với anh T nhưng cuộc sống chung đến nay vẫn không thay đổi. Theo lời khai của anh T: Vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng, Chị L đi đâu làm gì không thông báo, anh T có nói thì Chị L cho rằng mắng chửi Chị L. Tuy nhiên, theo xác minh tại địa phương thể hiện: Chị L và anh T có mâu thuẫn thường xuyên, hay cãi nhau vào buổi tối và ban đêm, anh T quản lý kinh tế, hàng tháng Chị L phải đưa tiền cho anh T quản lý. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa Chị L, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị L, xử cho chị Lý Thị Mộc L được ly hôn anh Nguyễn Văn T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Chị Lý Thị Mộc L và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung: Nguyễn Mạnh Toàn, sinh ngày 09/11/2013 hiện đang ở cùng với Chị L và anh T. Chị L và anh T đều có ý kiến đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Con chung Nguyễn Mạnh Toàn có nguyện vọng được sinh sống cùng mẹ. Việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha, mẹ nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dạy, học tập và phát triển trong điều kiện tốt nhất và xem xét nguyện vọng chính đáng của con. Vì vậy, cần giao cho chị Lý Thị Mộc L trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Nguyễn Mạnh Toàn, sinh ngày 09/11/2013 từ tháng 01/2025 đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lý Thị Mộc L nuôi con chung và không có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên cần chấp nhận sự tự nguyện này của Chị L.
Về tài sản chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết. Nếu các bên đương sự có tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Mộc L.
1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị Mộc L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị Mộc L và anh Nguyễn Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
1. 2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 09/11/2013 cho chị Lý Thị Mộc L trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 01/2025 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Chị L.
Anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Chị Lý Thị Mộc L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng Chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0006248 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Chị L đã thực hiện xong.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Lý Thị Mộc L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương; - Chi cục THA dân sự TP Hải Dương; - UBND xã Tiền T, TP Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu |