vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khả N, sinh ngày 11/3/2020 cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Quang S, sinh năm 2004 đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14 – 01 – 2025
Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Võ Thanh Liêm.

- Ông Phạm Văn Mười.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Đát, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 576/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P; sinh năm 1983 (có mặt);

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T; sinh năm 1978 (vắng mặt);

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 22/10/2024 và bản tự khai, chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh T chung sống vợ chồng vào năm 2003, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, anh T thường hay đi nhậu, ghen tuông vô cớ và đánh đập chị. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn anh T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh năm 2004, hiện đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; Nguyễn Khả N, sinh ngày 11/3/2020, hiện cháu đang sống với anh chị. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

- Đối với anh Nguyễn Thanh T, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh T vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Thanh T đã được tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Thanh T chung sống vợ chồng vào năm 2003, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên không được công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P xác định có 02 con chung tên Nguyễn Quang S, sinh năm 2004, hiện đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; Nguyễn Khả N, sinh ngày 11/3/2020, hiện cháu đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với anh T không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét thấy, hiện cháu S đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Đối với cháu N đang sống với chị P, mới hơn 04 tuổi, là con gái và tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu N cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

Về nợ chung: Chị P khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra xem xét.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khả N, sinh ngày 11/3/2020 cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Quang S, sinh năm 2004 đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Chị P khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đ. Ngày 01 tháng 11 năm 2024, chị P đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0009585 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ