- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trịnh Thị Kiều T và anh Cái Trần Minh S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Kiều T được ly hôn với anh C Trần Minh S.
- Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-7-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thanh Nguyên
2. Ông Hà Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Huỳnh Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 89/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Kiều T, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2004 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long).
2. Bị đơn: Anh Cái Trần Minh S, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1994 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 11 năm 2024, đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 06 tháng 6 năm 2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trịnh Thị Kiều T trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh C Trần Minh S chung sống với nhau vào năm 2021, đến năm 2022 đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 13 tháng 12 năm 2022. Chị và anh C Trần Minh S có 01 người con chung tên Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2022 hiện nay đang chung sống với chị; về tài sản chung và nợ, chị và anh C Trần Minh S tự thỏa thuận về tài sản chung, không tranh chấp, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống chị và anh C Trần Minh S thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau về vấn đề kinh tế gia đình nên chị và anh C Trần Minh S sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Chị thấy, chị và anh C Trần Minh S không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2022 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, chị không yêu cầu anh C Trần Minh S cấp dưỡng nuôi con, mặt dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ, chị cam kết không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu giải quyết gì khác.
* Tại Biên bản xác minh ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Anh Cái Trần Minh S và chị Trịnh Thị Kiều T xác lập hôn nhân và có sinh sống, làm việc tại ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi bất hòa về làm ăn kinh tế gia đình, anh chị sống ly thân vài năm nay; thời gian anh chị chung sống có 01 người con chung, hiện nay đang chung sống với chị Trịnh Thị Kiều T; anh sang thường xuyên không có mặt ở nhà.
* Bị đơn anh C Trần Minh S: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh C Trần Minh S biết để anh có ý kiến về việc chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh nhưng anh C Trần Minh S không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân Trịnh Thị Kiều T, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2004 (Bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn Trịnh Thị Kiều T và Cái Trần Minh S số: 86 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Bản chính); Giấy khai sinh tên Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01/01/2022 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 22 tháng 11 năm 2024 của chị Trịnh Thị Kiều T (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Trịnh Thị Kiều T gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh C Trần Minh S vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự, gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh C Trần Minh S vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Trịnh Thị Kiều T được ly hôn với anh C Trần Minh S. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho chị Trịnh Thị Kiều T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trịnh Thị Kiều T không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ, chị Trịnh Thị Kiều T tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh C Trần Minh S và nuôi con. Bị đơn anh C Trần Minh S cư trú tại: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang) nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C Trần Minh S biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Trịnh Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh C Trần Minh S nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh C Trần Minh S vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Trịnh Thị Kiều T và anh C Trần Minh S thì chị Trịnh Thị Kiều T gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh C Trần Minh S vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trịnh Thị Kiều T và anh C Trần Minh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Trịnh Thị Kiều T và anh C Trần Minh S chung sống với nhau vào năm 2021, đến năm 2022 đi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 86 ngày 13 tháng 12 năm 2022, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S, quá trình chung sống chị và anh C Trần Minh S thường xuyên bất hòa cự cãi với nhau về vấn đề kinh tế gia đình nên chị và anh C Trần Minh S sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, chị thấy, chị và anh C Trần Minh S không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S, nhưng anh C Trần Minh S không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án chị Trịnh Thị Kiều T cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh C Trần Minh S. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Kiều T, cho chị Trịnh Thị Kiều T được ly hôn với anh C Trần Minh S là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Trịnh Thị Kiều T và anh C Trần Minh S có 01 người con chung tên Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2022, chung sống với chị Trịnh Thị Kiều T từ khi anh chị ly thân đến nay. Khi ly hôn, chị Trịnh Thị Kiều T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung; anh C Trần Minh S không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời người con chung của anh chị mới có 41 tháng 16 ngày tuổi, từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Trịnh Thị Kiều T, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Trịnh Thị Kiều T, giao người con chung của anh chị tên: Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2022 cho chị Trịnh Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Trịnh Thị Kiều T không yêu cầu anh C Trần Minh S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Trịnh Thị Kiều T tự xác định, chị và anh C Trần Minh S không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ, điểm g khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Kiều T được ly hôn với anh C Trần Minh S.
2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên: Cái Trịnh Bảo A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2022 cho chị Trịnh Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được và hiện nay đang chung sống với chị Trịnh Thị Kiều T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị Kiều T không yêu cầu anh C Trần Minh S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Trịnh Thị Kiều T tự xác định, chị và anh C Trần Minh S không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Trịnh Thị Kiều T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003627 ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7, tỉnh An Giang). Chị Trịnh Thị Kiều T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND Khu vực 7, tỉnh An Giang; - Phòng THADS Khu vực 7, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - UBND xã Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |