- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử ly hôn giữa chị Lại Thị H và anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 08 - 2025 V/v: “Kiện xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5
- Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc: “Kiện xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi địa điểm mở lại phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 24 tháng 7 năm 2025; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lại Thị H, sinh ngày 04/10/1978; địa chỉ: Tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là tổ 6, phường PV, tỉnh Ninh Bình).
* Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh ngày 14/12/1970; địa chỉ: Tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là tổ 6, phường PV, tỉnh Ninh Bình).
Chị H có đơn xin xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai, các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì nguyên đơn chị Lại Thị H có quan điểm như sau:
Chị Lại Thị H và anh Trần Văn T kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là phường PV, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 23 tháng 09 năm 2003. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu rất ngắn đã đi đến hôn nhân và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không được hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống chung của nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không tồn tại đã lâu nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Thị H, sinh ngày 29/10/1999 (con gái) và cháu Trần Thị Tú L, sinh ngày 28/9/2005 (con gái). Hiện nay 02 con chung đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Con nuôi, con riêng: Không có. Hiện chị H không có thai nghén gì.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không lấy được lời khai của anh T, nên không có quan điểm của anh T.
* Quan điểm của chính quyền địa phương: Nay chị Lại Thị H có đơn xin ly hôn anh Trần Văn T đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn theo quy định pháp luật.
* Tại phiên toà hôm nay:
Chị Lại Thị H vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trước đó tại Tòa. Anh Trần Văn T vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng, ý kiến về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, thời gian, tiến hành xác minh thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:
Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 68; 144; 147; 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 51; 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lại Thị H: Xử ly hôn giữa chị Lại Thị H và anh Trần Văn T.
2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lại Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Văn T có nơi cư trú tại tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là phường PV, tỉnh Ninh Bình). Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án “Kiện xin ly hôn” giữa chị Lại Thị H và anh Trần Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
Về hôn nhân:
Cuộc hôn nhân giữa chị Lại Thị H và anh Trần Văn T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là phường PV, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 23 tháng 09 năm 2003 đã thỏa mãn với điều kiện, thủ tục kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Lại Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H và anh T đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 02 con chung sau đó mới phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay không bên nào còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trần Văn T nhiều lần nhưng anh T đều không đến Tòa án làm việc, chứng tỏ anh T không mong muốn đoàn tụ vợ chồng. Nay chị H có đơn xin ly hôn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, do đó căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với thực tế và pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Thị H, sinh ngày 29/10/1999 (con gái) và cháu Trần Thị Tú L, sinh ngày 28/9/2005 (con gái). Hiện nay cả 02 con chung đã trưởng thành nên chị H không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về con nuôi, con riêng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lại Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 51; 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Xử ly hôn giữa chị Lại Thị H và anh Trần Văn T.
2/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lại Thị H phải nộp là 300.000 đồng. Chị H được đối trừ với 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002139 ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình). Chị H đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị H và anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - THA dân sự tỉnh Ninh Bình; -UBND phường Phù Vân, tỉnh Ninh Bình (ĐKKH ngày 23/9/2003); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuyên |