- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn giữa chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 24 - 7 - 2025. V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Thiệp;
Bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quàng Thị D; địa chỉ: Bản C, xã TC, tỉnh Sơn La (trước là Bản C, xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). (Vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lò Văn P; địa chỉ: Bản C, xã TC, tỉnh Sơn La (trước là Bản C, xã PL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2025, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Quàng Thị D trình bày:
Về tình cảm: Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P kết hôn với nhau từ ngày 30/4/2004 có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống, anh Lò Văn P nghiện rượu, thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị Quàng Thị D và không quan tâm đến cuộc sống gia đình, chị Quàng Thị D và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Lò Văn P không thay đổi. Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Quàng Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Quàng Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn P.
Về con chung: Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P có 04 con chung:
Cháu Lò Thị N, sinh ngày 21/3/2005; cháu Lò Thị H, sinh ngày: 23/5/2007; cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012; cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019. Hiện nay các cháu Lò Thị N và cháu Lò Thị H đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
Nay ly hôn chị Quàng Thị D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị D không yêu cầu anh Lò Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lò Văn P, anh Lò Văn P không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do vậy không có lời khai của anh Lò Văn P đối với yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị D
Biên bản xác minh ngày 13/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P: Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P từ ngày 30/4/2004 có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tính tình không hoà hợp. Hiện nay chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P đã sống ly thân từ lâu. Nguyên nhân mâu thuẫn chính quyền địa phương không nắm rõ.
Ý kiến của cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 con chung của chị Quàng Thị D, anh Lò Văn P. Hiện nay cháu đang sống cùng chị Quàng Thị D, nay nguyện vọng của cháu muốn được ở cùng chị Quàng Thị D (mẹ đẻ của cháu).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Quàng Thị D nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.
Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 23/6/2025 nguyên đơn chị Quàng Thị D trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Quàng Thị D đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Quàng Thị D về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn P; về con chung có 04 con chung: Cháu Lò Thị N, sinh ngày 21/3/2005; cháu Lò Thị H, sinh ngày: 23/5/2007; cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012; cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019. Hiện nay các cháu Lò Thị N và cháu Lò Thị H đã trưởng thành, đủ khả năng lao động không yêu cầu tòa án giải quyết, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh Lò Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung: Cam đoan không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Chị Quàng Thị D đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn P đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Quàng Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH 15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn P.
Về con chung: Giao cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 cho chị Quàng Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Quàng Thị D khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Lò Văn P có địa chỉ tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La). Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La) thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH 15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án.
Nguyên đơn chị Quàng Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Lò Văn P vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Quàng Thị D, bị đơn anh Lò Văn P.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã TC, tỉnh Sơn La) vào ngày 30/4/2004, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, chị Quàng Thị D cho rằng anh Lò Văn P không quan tâm đến cuộc sống gia đình, đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P đã sống ly thân. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương xác nhận chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P có phát sinh mâu thuẫn và hiện nay chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P đã sống ly thân. Anh Lò Văn P đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai và hoà giải, anh Lò Văn P không có mặt, do vậy Toà án không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ anh Lò Văn P không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn P. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung:
Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P có 04 con chung: Cháu Lò Thị N, sinh ngày 21/3/2005; cháu Lò Thị H, sinh ngày: 23/5/2007; cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012; cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019. Hiện nay các cháu Lò Thị N và cháu Lò Thị H đã trưởng thành, đủ khả năng lao động không yêu cầu tòa án giải quyết. Chị Quàng Thị D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 đến khi các cháu trưởng thành.
HĐXX xét thấy: Cháu Lò Thị N, sinh ngày 21/3/2005; cháu Lò Thị H, sinh ngày: 23/5/2007 là con chung của chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P đều đã trưởng thành, đủ khả năng lao động, chị Quàng Thị D không yêu cầu tòa án giải quyết cần được chấp nhận.
Cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 đều đang sống cùng chị Quàng Thị D và nguyện vọng của cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 (con trên 7 tuổi) muốn sống cùng chị Quàng Thị D, còn cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 đang con nhỏ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Quàng Thị D. Giao cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019 cho chị Quàng Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Chị Quàng Thị D không yêu cầu anh Lò Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Lò Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về nợ chung: Cam đoan không có.
. Về án phí: Chị Quàng Thị D phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định. Chị Quàng Thị D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho chị Quàng Thị D. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH 15, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn P.
2. Về con chung:
Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn P có 04 con chung: Cháu Lò Thị N, sinh ngày 21/3/2005; cháu Lò Thị H, sinh ngày: 23/5/2007; cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012; cháu Lò Minh K, sinh ngày: 05/4/2019.
Hiện nay các cháu Lò Thị N và cháu Lò Thị H đã trưởng thành đủ khả năng lao động không yêu cầu tòa án giải quyết.
Giao cháu Lò Thị Phương V, sinh ngày 10/9/2012 và cháu Lò Minh K, sinh ngày 05/4/2019 cho chị Quàng Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị D.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Quàng Thị D; bị đơn anh Lò Văn P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2 – Sơn La( 2 bản ); - UBND xã TC, tỉnh Sơn La, - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Ngọc Thiệp Lý Thị Vinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |