vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của bà Néang D.

Về hôn nhân: Bà Néang D được L hôn với ông Chau S Giấy chứng nhận kết hôn số 49, ngày 19/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Néang D và ông Chau S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của bà Néang D.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/7/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
L hôn, nuôi con chung ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Minh Huyền

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý;

2. Bà Chế Thị Hồng Cẩm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân, thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 14 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14 - An Giang Tm gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 161/2025/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình L hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27/6/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Néang D, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ 16, ấp Ninh Thuận, xã An Tức (nay xã Ô Lâm), tỉnh An Giang (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Chau S, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 16, ấp Ninh Thuận, xã An Tức (nay xã Ô Lâm), tỉnh An Giang (vắng mặt);

Nơi tạm trú: Khóm Tô Thuận, thị trấn Cô Tô (nay xã Cô Tô) tỉnh An Giang;

3. Người làm chứng: Bà Chau Néang P , sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp Ninh Thuận, xã An Tức (nay xã Ô Lâm) tỉnh An Giang (vắng mặt);

4. Người phiên dịch: Ông Chau Pho L ; địa chỉ: Khóm 6, thị trấn Tri Tôn (nay xã Tri Tôn) tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa án bà Néang D trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2009 bà và ông Squen biết nhau do qua mai mối, chúng tôi có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn số 49, ngày 19/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu cuộc sống bình thường nhưng đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chồng thường xuyên nhậu nhẹt. Sau đó chồng về nhà mẹ Rột sinh sống từ đó cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên bà D yêu cầu được L hôn ông Si.

Về con chung: Có hai con chung tên Chau S R, sinh ngày 06/4/2024 và Chau Vutsh T, sinh ngày 21/4/2011. Bà D yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông Scấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Người làm chứng bà Néang P cho biết: Bà là mẹ Ruột của ông S. Vào năm 2017 thì ông S bỏ đi do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên không hạnh phúc, hiện tại bà D đang nuôi dưỡng hai đứa con chung.

Tòa án đã tiến hành đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự cho bị đơn ông Chau S. Tuy nhiên, ông S vẫn không Tm gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Nguyên đơn xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

Hội đồng xét xử công bố kết quả xác minh, biên bản lấy lời khai về tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của ông S.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, quan điểm giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết án Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 97, Điều 227, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng quy định về xét xử phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên còn một số quy phạm nhưng không ảnh hưởng đến nội dung vụ án.

Về chấp hành pháp luật của đương sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, chấp hành đúng quy định tại Điều 71. Tuy nhiên bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần hai nên không thực hiện Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người Tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Néang D khởi kiện yêu cầu L hôn ông Chau S có địa chỉ tại tổ 16, ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn (nay xã Tri Tôn) tỉnh An Giang nên thuộc tranh chấp L hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn và người làm chứng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Svà bà P . Tuy nhiên ông Sđã vắng mặt lần hai và bà P đã có lời khai cho Tòa án. Xét đây là lần vắng mặt thứ hai của ông Snên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Vào năm 2009 bà D và ông Squen biết nhau do qua mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn số 49, ngày 19/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo lời khai của bà D cho rằng vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2017, nguyên nhân do chồng thường xuyên nhậu nhẹt, ông Sbỏ về nhà mẹ Rột sinh sống nên vợ chồng đã sống L thân từ năm 2017 cho đến nay, nay tình cảm không còn bà D yêu cầu được L hôn.

Theo lời khai của bà P (mẹ Ruột của ông S) cho biết: Về mâu thuẫn vợ chồng ông S thì bà không rõ nhưng từ năm 2017 đến nay vợ chồng ông S và L thân cho đến nay. Về con chung thì hiện tại hai cháu R và cháu T đang do bà D nuôi dạy.

Biên bản xác minh tại địa phương cho biết: Ông Chau S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện tại ông S đi làm ăn xa thỉnh thoảng có về địa phương. Về mâu thuẫn vợ chồng thì địa phương không rõ, nhưng hiện tại vợ chồng ông Sđã sống L thân từ năm 2017 cho đến nay, hiện tại bà D đang nuôi dưỡng hai con chung.

Xét thấy, các biên bản xác minh, biên bản lời khai phù hợp với nhau về việc vợ chồng có mâu thuẫn chủ yếu là do ông S thường xuyên nhậu nhẹt nên vợ chồng đã sống L thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian L thân đã quá lâu để hai bên cùng hàn gắn tình cảm nhưng cả hai cũng không thể hàn gắn lại tình cảm. Ông Sđể mặc cho bà D tự sinh sống và nuôi con tại địa phương. Cho thấy cuộc sống hôn nhân vợ chồng không còn hạnh phúc.

Cho nên, tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu L hôn của bà D theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có hai con chung tên Chau S R, sinh ngày 06/4/2014 và Chau Vuth T, sinh ngày 21/4/2011.

Nhận thấy, cháu R và cháu T đều đang do bà D chăm sóc ổn định. Đồng thời tại bản tự khai ngày 06/6/2025 thì hai cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Từ đó để đảm bảo cho môi trường sống của hai cháu được ổn định thì giao hai cháu cho bà D tiếp tục nuôi dạy. Ông Skhông phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét chấp nhận.

Căn cứ Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình thì sau khi L hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định Ty đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà D khởi kiện xin L hôn nên phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch. Ông Skhông phải chịu án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 229, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ cầu khởi kiện của bà Néang D.

Về hôn nhân: Bà Néang D được L hôn với ông Chau S

Giấy chứng nhận kết hôn số 49, ngày 19/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý

Về con chung: Bà Néang D được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Chau S R, sinh ngày 06/4/2014 và Chau Vuth T, sinh ngày 21/4/2011. Ông Chau S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.

Sau khi L hôn cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật mà không ai được quyền cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định Ty đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Néang D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013062 ngày 25/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 14 tỉnh An Giang). Ông Chau S không phải chịu án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ