- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa M và K"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-01-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Ông Lữ Văn Công;
2. Ông Nguyễn Văn Hải.
-"Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Huế Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 120/2024/TLST-HN, ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST, ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đỗ Hoàng K, sinh năm 1997; (Có mặt)
Trú tại: ấp A, xã T, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Chị Dương Thị Thoại M, sinh năm 1998; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: ấp S, xã D, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đỗ Hoàng K trình bày:
Anh và chị M quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạ vào năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài ngày một trầm trọng dẫn đến anh và chị M đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn Dương Thị Thoại M.
Về con chung: Anh và chị M có 01 con chung tên là Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017. Con chung hiện nay đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn anh đồng ý để chị M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Dương Thị Thoại M trình bày:
Chị và anh K quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài ngày một trầm trọng. Nay nguyên đơn yêu cầu ly hôn chị cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung tên là Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017. Con chung hiện nay đang sống chung với chị, nay chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc gia đình nên chị có đơn xin được xét xử vắng mặt tại Tòa án các cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Đỗ Hoàng K được ly hôn với bị đơn Dương Thị Thoại M. Về con chung: Giao cho chị Dương Thị Thoại M được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017 cho đến khi trưởng thành, chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên anh K chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị M quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đại Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng từ năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do xuất phát từ việc tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày một trầm trọng nên nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện nay anh K và chị M mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhận thấy anh K và chị M đã không sống chung trong một thời gian, anh chị không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh K được ly hôn với chị M theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017 hiện do bị đơn nuôi dưỡng, từ khi nguyên đơn và bị đơn ly thân đến nay con chung ở với bị đơn, cuộc sống của cháu đã ổn định. Mặt khác nguyên đơn cũng đồng ý giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung tên là Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên anh K chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh K không ai được quyền cản trở.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên;"
" "
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn anh Đỗ Hoàng K được ly hôn với bị đơn chị Dương Thị Thoại M.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Đỗ Hoàng H (nam), sinh ngày 02/9/2017 cho bị đơn chị Dương Thị Thoại M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Bị đơn không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con chung nên nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Đỗ Hoàng K không ai được quyền cản trở.
3. Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Đỗ Hoàng K phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005875 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
7. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TP. Ngã Bảy; - CCTHA TP. Ngã Bảy; - UBND xã Đại Thành; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lữ Văn Công Nguyễn Văn Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Cương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Cương |