vanban.org

Bản án 03/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;

Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Phan Đình Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thanh H - Phan Đình Q"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 7 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Trần Khoa

2. Ông Nguyễn Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 971/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1989

Địa chỉ: G K, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Đình Q, sinh năm 1983

Địa chỉ đăng ký thường trú: H K, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: 48/22/8 C, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường T, tỉnh Khánh Hòa).

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H trình bày:

Bà và ông Phan Đình Q tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2014, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2014 ngày 27/6/2014. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó, cả hai thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà và ông Q đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Đình Q.

Về con chung: Bà và ông Q có 02 (hai) con chung gồm Phan Lê Gia H1, sinh ngày 06/7/2014 và Phan Lê Gia H2, sinh ngày 01/01/2017. Bà đề nghị giao 02 con chung là Phan Lê Gia H1, sinh ngày 06/7/2014 và Phan Lê Gia H2, sinh ngày 01/01/2017 cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bà xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.

Bị đơn ông Phan Đình Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Phan Đình Q. Về con chung: Giao cháu Phan Lê Gia H1, sinh ngày 06/7/2014 và Phan Lê Gia H2, sinh ngày 01/01/2017 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ tuổi trưởng thành. Tạm thời ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung khi ly hôn với ông Phan Đình Q, cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa; quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn”.

Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phan Đình Q đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bà Lê Thị Thanh H và ông Phan Đình Q.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Phan Đình Q tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là phường N, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2014 ngày 27/6/2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Theo lời khai của bà H, quá trình chung sống, bà và ông Q thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không thể hàn gắn. Hiện tại, bà và ông Q đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ông Q không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà H; bà H đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải và kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của bà H về việc giải quyết ly hôn với ông Q là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Theo giấy khai sinh và lời khai của bà H thể hiện bà H và ông Q có 02 (hai) con chung là Phan Lê Gia H1, sinh ngày 06/7/2014 và Phan Lê Gia H2, sinh ngày 01/01/2017. Bà H đề nghị Tòa án giao 02 (hai) con chung cho bà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Hội đồng xét xử nhận thấy hiện bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Phan Lê Gia H1 và Phan Lê Gia H2. Tại bản tự khai ngày 12/5/2025, các cháu Phan Lê Gia H1 và Phan Lê Gia H2 trình bày nguyện vọng được ở với bà H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung phát triển toàn diện và được sống ổn định nên giao cháu Phan Lê Gia H1 và Phan Lê Gia H2 cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Ông H không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Phan Đình Q.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung là các cháu Phan Lê Gia H1, sinh ngày 06/7/2014 và Phan Lê Gia H2, sinh ngày 01/01/2017 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.

Ông Phan Đình Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị Thanh H không yêu cầu ông Phan Đình Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết, bà H và ông Q đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003164 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa). Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thanh H và ông Phan Đình Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ